Thứ Hai, 17 tháng 1, 2011

Kỹ nghệ nuôi bò lấy thịt, sữa là một trong những nguồn gây khí thải. (Ảnh: Telegraph)
There is no doubt about it: our environment is facing severe degradation. Preserving our environment and living space is crucial for the survival of all the species on this planet. From a Catholic perspective, God has bestowed this world upon us as a gift and thus we need to respect this treasure, to protect and develop it for the better for all of Earth's inhabitants.

MÔI TRƯỜNG: VẤN NẠN VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT

Nguồn: Giáo Dục Công Giáo www.giaoducconggiao.net
Tác giả: Thanh Nhiên

Ngày nay trên toàn thế giới đều lên tiếng về vấn đề bảo vệ môi trường. Tác giả bài Dự Báo Về Môi Trường của thế kỷ XXI viết như sau: “Ngày nay…, khi chúng ta cất cao tiếng hát chiến thắng hướng tới tương lai càng thêm tươi sáng hơn thì bỗng nhiên chúng ta phát hiện thấy ‘thanh gươm Đamôclet’ đang treo lơ lửng trên đầu chúng ta: đó là nhân khẩu tăng nhanh, tài nguyên cạn kiệt, môi trường ô nhiễm, nhiều giống loài bị hủy diệt, thiên tai ngày càng nhiều, xã hội ngày càng rối ren… con người hiện đại đang hưởng thụ một nền văn minh vật chất cao chưa từng có trong lịch sử thì đồng thời cũng đang bị giày vò bởi những nỗi thống khổ mà loài người chưa từng gặp phải”.

NHỮNG VẤN NẠN

Ngày nay, các chuyên gia về môi trường đã phân chia những thiệt hại về môi trường thành hai loại: loại thứ nhất đến từ thiên nhiên như động đất, hạn hán, đất lở, lũ lụt; loại thứ hai đến từ những sinh hoạt của con người gây ô nhiễm môi trường và hủy hoại sinh thái, chủ yếu là khí thải, chất phế thải và nước thải từ công nghiệp. 


1. Ô Nhiễm Môi Trường Khí Quyển

Những nhà khoa học cho rằng những cơn dông tố, những cơn lốc, lũ lụt, hạn hán… xảy ra trong những năm gần đây trên thế giới phần lớn là do bầu không khí đang bị phá hủy bởi các chất thải. Theo thống kê năm 1990, con người đã thải vào bầu khí quyển khoảng 99 triệu tấn khí độc lưu huỳnh, 68 triệu tấn khí Azôr, 117 triệu tấn khí CO2, 57 triệu tấn các chất bụi bặm khác… Đó là nguyên nhân làm cho trái đất bị nóng do thủng tầng Ozon. Theo nhận định của G.H. Brontơron, chủ tịch ủy ban môi trường và phát triển Thế Giới, ngoài chiến tranh hạt nhân ra, mối đe dọa lớn nhất của loài người là sự biến đổi của khí hậu: nó không những đe dọa sự tồn vong của con người mà còn uy hiếp cả tương lai của trái đất.

2. Nạn Phá Rừng

Con người và thiên nhiên luôn gắn bó chặt chẽ và hài hòa với nhau. Sự hài hòa này tạo nên thế quân bình môi trường sống của con người. Thế nhưng con người lại không ý thức về điều đó, đã tự do phá rừng khai thác tài nguyên thiên nhiên vô ý thức. Theo thống kê ước lượng mỗi năm có khoảng 11 triệu hec-ta rừng nhiệt đới trở thành sa mạc, hàng năm hơn 6 triệu mẫu đất bị sa mạc hóa. Diện tích rừng của thế giới giảm nhanh do nhu cầu phá rừng để lấy đất, lấy củi-gỗ và nhất là do mưa axit.

Vào năm 2.000 người ta ước tính có khoảng 35.000 thảo mộc và động vật biến khỏi trái đất. Sự khai thác vô trách nhiệm làm cho hệ thống tái sinh của thiên nhiên và sự luân chuyển điều hòa giữa các thành phần thiên nhiên bị đe dọa nặng nề; đồng thời khiến cho con người không còn cách đối phó hữu hiệu trước những tấn công của thời tiết rối loạn và của bệnh tật.

1. Môi Trường Sinh Thái

Cơ quan kế hoạch về môi trường Liên Hiệp Quốc dự tính đến năm 2050, mỗi ngày sẽ có khoảng 50-150 số động vật trên trái đất bị diệt chủng, lý do là vì ô nhiễm môi trường, điều này ảnh hưởng rất lớn tới đời sống tương lai của con người. Bởi vì mỗi một loại sinh vật trên trái đất đều là nguồn tài nguyên phục vụ cho đời sống của con người. Đứng trước nguy cơ vì nạn hủy diệt của sinh vật, tháng 6 năm 1992, hơn 100 nhà lãnh đạo các nước đã thông qua văn kiện “nghị trình của thế kỷ 21, tuyên ngôn Rio de Janeiro về môi trường và phát triển” và đã ký vào công ước bảo vệ tính đa năng sinh học gồm ba nội dung chính: Một là thành lập một số khu bảo tồn thiên nhiên; hai là xây dựng các công viên thiên nhiên; ba là thành lập khu giống và gen trên quy mô toàn cầu. 


2. Rác Thải

Trong thế giới hiện đại, trên khắp các lục địa, các đại dương và bầu trời rác rưởi lan tràn. Theo thống kê, rác rưởi hàng năm của các thành phố Mỹ lên tới 160-200 triệu tấn, ở Nhật 70 triệu tấn, ở cộng đồng Châu Âu 2 tỷ tấn.

Rác công nghiệp: rác thải công nghiệp là các chất rắn từ quá trình sản xuất của xí nghiệp công xưởng, hầm mỏ. Hiện nay trên thế giới mỗi năm có khoảng 2 tỷ tấn rác thải công nghiệp: 628 triệu tấn của Mỹ, Trung Quốc 620 triệu tấn, Nhật 312 triệu tấn, Liên Xô 306 triệu tấn, Ba Lan 275 triệu tấn. Rác gây nguy hại cho đời sống con người, gây nguy hại cho các sinh vật.

Rác vũ trụ: con người ngày nay càng tiến theo đà công cuộc chinh phục không gian, rác vũ trụ tích tụ ngày càng nhiều. Do các tên lửa đã được phóng lên không gian, người ta ước tính mảnh vụn của các tên lửa có khoảng 20.000 tấn. Ngoài ra còn có nguy cơ rác thải của những vệ tinh hạt nhân, những lò phản ứng hạt nhân, như vụ nổ vệ tinh trinh sát của Liên Xô mang tên “Vũ Trụ 954”.

Rác thải trong sinh hoạt thường ngày của con người: thực tế ở Việt Nam, các sông rạch tại TPHCM đang là một vấn đề cấp bách về rác thải. Người ta ước tính mỗi ngày có khoảng 450 tấn rác thải xuống các dòng sông, kênh rạch bị ô nhiễm, gây dơ bẩn hôi hám và dẫn tới dịch bệnh nguy hiểm.

Tóm lại: những vấn đề vừa nêu trên giúp chúng ta hiểu rõ về môi sinh, môi trường hiện nay trên thế giới cũng như tại Việt Nam đang là một vấn đề cấp bách đối với trách nhiệm của tất cả mọi người nói chung và của từng người nói riêng đang sống trong thế kỷ XXI này.

MỘT VÀI HƯỚNG GIẢI QUYẾT

Vấn đề môi trường là vấn đề liên quan thiết thân của con người trong mọi thời đại. Chính vì thế, để bảo vệ môi trường thì bất cứ ai cũng phải có trách nhiệm bảo vệ và gìn giữ những tài nguyên quý giá đã được thiên nhiên ban tặng. Liên quan đến vấn đề này, nhiều hội nghị quốc tế đã được tổ chức nhằm đưa ra những biện pháp giúp giải quyết tình trạng môi trường sinh thái đang bị đe dọa, trong đó có hội nghị Rio. Hội nghị này đã có những công ước mang tính trách nhiệm chung về tính đa dạng sinh học dựa trên những nguyên tắc bình đẳng về xã hội. Sau đây là một số các bổn phận các quốc gia trên thế giới phải thực hiện mà công ước đưa ra để nhằm cứu vãn môi trường sinh thái cho con người và sinh vật.

1. Trợ Giúp Các Nước Nghèo

Các nước nghèo, người dân vì mưu sinh nên đã khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi, và một khi khai thác bừa bãi quá mức thì sự sống của nhân loại sẽ bị đe dọa. Chính vì thế, nội dung điều 5 của công ước Rio nói: Mọi quốc gia và mọi dân tộc phải cộng tác vào công việc cốt yếu là loại trừ sự nghèo túng. Đây là việc làm cần thiết để có thể giảm thiểu được những khác biệt về bình diện đời sống và đáp ứng tốt đẹp hơn các nhu cầu của những dân tộc nghèo trên thế giới.
 

Điều 9 của công ước lại nói về vấn đề kỹ thuật: Các cuộc gia cần trao đổi và cải thiện về vấn đề khoa học kỹ thuật phát huy nền công nghiệp kỹ thuật mới mẻ, nhằm cải thiện đời sống con người và bảo vệ môi trường sinh thái.

2. Bảo Vệ Chủng Loại Và Môi Trường Sống Của Chúng

Trên thế giới hiện nay một số chủng loại đang ở trong tình trạng bị tiệt chủng. Chính vì thế các quốc gia cần phải hợp tác với nhau để bảo đảm sự sống và môi trường sống của các sinh vật. Điều quan trọng là phải bảo vệ chủng loại tại nơi sinh sống tự nhiên, cũng như bảo vệ chủng loại tại các khu nuôi vườn động-thực vật, rất cần thiết cho các quốc gia cần phải bảo vệ và duy trì các hệ sinh thái tự nhiên. Có như thế mới đảm bảo cho đời sống con người trong hiện tại và tương lai phát triển tốt đẹp hài hòa.

3. Các Cố Gắng Về Mặt Chính Trị

Cơ quan chính phủ và các nhà lập pháp cần phải đề ra chính sách bảo vệ môi trường với mục đích duy trì tính vững bền. Đảm bảo các chính sách, các kế hoạch phát triển, ngân sách và quyết định đầu tư của quốc gia phải đảm bảo đối với môi trường. Đối với các môi trường và tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc bị đàn áp, bị thống trị, đều phải được bảo vệ.
 

Tóm lại: Bảo vệ môi trường là bổn phận, trách nhiệm và ý thức của từng người, của mỗi quốc gia và của toàn thế giới. Để bào đảm được môi trường sống an toàn sạch đẹp, chúng ta cần phải kiểm soát khí thải vì nó sẽ phá hủy tầng Ozon; không thải các nước hóa chất bừa bãi vì sẽ làm băng hoại môi trường sinh thực vật. Không nên phá rừng vì sẽ là nguyên nhân gây lụt lội, không vất rác bừa bãi vì sẽ là nguyên nhân ô nhiễm môi trường.

QUAN ĐIỂM CỦA GIÁO HỘI VỀ MÔI TRƯỜNG

Đối với Giáo Hội, vấn đề môi sinh được công đồng Vaticanô II quan tâm tới rất nhiều. Công đồng luôn ý thức về nhiệm vụ Thiên Chúa trao cho con người: “Canh tác trái đất với hai bàn tay hoặc với phương tiện kỹ thuật, để trái đất nảy sinh hoa quả và trở thành nơi cư ngụ xứng đáng cho toàn thể gia đình nhân loại…” . Trong tông thư “bát thập niên”, Đức Phao-lô VI quan tâm đến vấn đề môi sinh với lời ngắn gọn: “Loài người hãy coi chừng! Cứ bóc lột thiên nhiên vô tội vạ, thì có ngày sẽ phá hủy nó mất thôi, và rồi con người sẽ trở thành nạn nhân của chính hành động phá hoại ấy…”. Đến thời Đức Gio-an Phao-lô II chọn quan điểm luân lý và tôn giáo để nhìn vấn đề môi sinh. Những vấn đề chính yếu về vấn đề môi sinh của ngài được tóm lại như sau:

Ngày 02/06/1980, Ngài tuyên bố tại đại hội tổ chức UNESCO: “Chúng ta phải xác tín về vị trí ưu việt của luân lý trên kinh tế, của nhân sự trên sự vật, của tinh thần trên vật chất”.
 

Năm 1981 ngài viết trong thông điệp “lao động con người”: “Thế giới hữu hình với những kho tàng tài nguyên của nó đã có sẵn đó. Con người tìm thấy nó chứ không làm ra nó…, con người bắt gặp món quà ấy do thiên nhiên trực tiếp trao tặng và cuối cùng là do Đấng tạo hóa thi ân”.
 

Năm 1987, trong thông điệp “mối bận tâm về vấn đề xã hội”, Ngài triển khai về vấn đề môi sinh theo ba thái độ nhận thức cụ thể:

Con người không được tùy tiện sử dụng các thụ tạo trong thế giới khoáng sản, thực vật và động vật theo như nhu cầu kinh tế của riêng mình, nhưng phải quan tâm đến bản tính tự nhiên của mỗi vật thể và tới các mối quan hệ hỗ tương giữa các vật thể trong hệ thống tổng thể của vũ trụ.
 

Con người phải khẩn trương nhận thức rằng: các nguồn tài nguyên thiên nhiên thì có hạn, trong số đó có những nguồn tài nguyên không thể tái tạo, nếu cạn kiệt. Vậy phải bảo vệ chúng cho thế hệ hiện tại và nhất là cho thế hệ tương lai.

Sự phát triển bằng con đường công nghiệp hóa thường gây ô nhiễm trầm trọng cho môi trường và phương hại tới “chất lượng cuộc sống” và sức khỏe của dân chúng. Do đó, bảo vệ môi trường là bảo vệ chính mình và bảo vệ anh chị em đồng loại trong tâm tình liên đới. Nói cách khác, để thi hành quyền “làm chủ trái đất” do Đấng tạo hóa  trao phó, con người đừng nghĩ rằng mình có quyền tuyệt đối, nhưng phải chấp nhận tuân theo những nguyên tắc luân lý, trong khi vận dụng những quy luật vật lý và sinh học.

Đức Gio-an Phao-lô II không những quan tâm đến “môi sinh thiên nhiên” mà ngài còn quan tâm tới “môi sinh nhân bản”. Trong thông điệp “bách chu niên” quan điểm của ngài như sau:
 

Con người là một ân huệ Thiên Chúa ban cho chính con người. Do đó, mỗi người phải biết tự đón nhận mình và đón nhận tha nhân như quà tặng Thiên Chúa ban cho: quà tặng ấy mang trong mình những định hướng, những cơ cấu tự nhiên mà con người phải tôn trọng. Nếu thân xác con người cần một môi trường vật lý trong sạch để có thể tồn tại và tăng trưởng, thì tinh thần con người cũng cần một môi trường luân lý lành mạnh để phát triển nhân cách và thành người theo mô hình Thiên Chúa phác họa trong chương trình tạo dựng.

Thật vậy, vấn đề môi sinh mà Giáo Hội quan tâm nhất là dưới triều đại Đức Gio-an Phao-lô II, đó là trách nhiệm của Giáo Hội nói chung và của riêng mỗi con người. Giáo Hội luôn xác tín rằng: Thiên Chúa đã tạo dựng nên vũ trụ và ban tặng vũ trụ cho con người quản lý, nghĩa là làm chủ bằng việc “canh tác và bảo vệ” vũ trụ này mỗi ngày một phát triển tốt đẹp hơn. Chính vì thế con người không được phép tự do hủy hoại vũ trụ trong sự ích kỷ và vụ lợi riêng tư, nhưng còn phải bảo vệ và làm phát triển chúng cho toàn thể nhân loại.


http://www.giaoducconggiao.net/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=30&ia=145

Thứ Tư, 5 tháng 1, 2011

World renowned Zen Master Thích Nhất Hạnh emphasized the importance of saving the planet from climate change by returning to spiritual values. He said, "One Buddha is not enough; we need many Buddhas."

Trích đoạn: Thiền và nghệ thuật bảo vệ hành tinh
Thích Tâm Chánh dịch theo buddhistchannel.tv (28/09/2010)

Trong một cuộc phỏng vấn hiếm hoi, thiền sư Thích Nhất Hạnh cảnh báo về mối đe dọa đến nền văn minh do biến đổi khí hậu, và phục hồi tinh thần là giải pháp để ngăn chặn những thảm họa.     

Ở độ tuổi 84, Thiền sư Thích Nhất Hạnh vẫn hướng dẫn gần 1.000 người thiền hành qua những ngọn đồi vùng Nottinghamshire, đây không phải là cuộc tản bộ Chủ Nhật truyền thống ở miền quê nước Anh.

Cuộc tuần hành trong im lặng và thật từ tốn trên con đường ngoằn ngoèo băng qua khu rừng thưa và vườn táo. Đám đông được yêu cầu phải trải nghiệm trong từng bước chân để đưa tâm ý trở về với thực tại.

Thầy tách ra khỏi lối đi, bước vào cánh đồng cỏ và tọa thiền, toát lên sự thanh thản của một thiền sư sau 68 năm thiền tập.

Mặc dù có hàng trăm ngàn đệ tử khắp nơi trên thế giới và được tôn kính như đức Đạt-lai-lạt-ma, nhưng Thầy lại ít được công chúng biết đến. Ngài tránh sự chú ý của mọi người và sự hào nhoáng của ca tụng tán thán để toàn tâm cho việc xây dựng cộng đồng trên khắp thế giới sống theo phương pháp đạo đức của ngài. Ngài đã thành lập nhiều tu viện ở Pháp, Mỹ, và Đức, đồng thời có nhiều nhóm ủng hộ ở khắp mọi nơi, với hơn 20 “Tăng thân” ở khắp vùng vương quốc Anh.

Ngài đang tìm kiếm cách phục hồi tâm hồn để thay thế cho lối sống trụy lạc bằng cách trở về thế giới tươi đẹp hơn và giản đơn hơn dựa trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau và tôn trọng môi trường. Ngài hiếm khi trả lời phỏng vấn nhưng lại luôn nhận ra những thách thức lớn mà thế giới đang phải đối mặt, dựa vào kinh nghiệm tuổi tác của mình và sự giả hợp thì cần sử dùng thời gian và năng lượng như thế nào để đóng góp cho sự phục hồi xã hội và bảo vệ hành tinh là điều quan trọng.

Ở độ tuổi ấy, nhưng Thầy vẫn lên một lịch trình rõ ràng. Sau khi thuyết giảng trước cả ngàn thính chúng ở Hammersmith Apollo-London, Thầy lại có khóa tu 5 ngày ở Nottingham, sau đó lại có một chuyến công du 3 tháng ở châu Á, trước tham gia khóa tu mùa đông ở làng Mai nơi ngài đã sống hơn 40 năm khi xa quê hương.

Thầy là một tác giả lớn với hơn 85 đầu sách và luôn quan tâm đến sự thay đổi của khí hậu, và gần đây ngài đã xuất bản cuốn sách bán rất chạy với tựa đề “ Thế giới chúng ta ở – một giải pháp Phật học cho hòa bình và sinh thái.”

Tự an ủi bằng hưởng thụ quá mức


Trong cuốn sách này, ngài viết: “ Tình trạng thế giới ngày nay được xây dựng trên sự sản xuất và tiêu thụ vô tội vạ. Chúng ta hưởng thụ để quên đi những nỗi lo lắng phiền muộn. Tự an ủi bằng hưởng thụ quá mức không phải là giải pháp hợp lý.”

Trả lời phỏng vấn ở vương quốc Anh, Thầy kêu gọi giới báo chí hãy chung tay ngăn chặn sự phá hủy nền văn minh, và giới doanh nghiệp hãy từ bỏ lợi ích cá nhân để xây dựng hạnh phúc xã hội.
 

Ngài nói rằng giải pháp cho sự nóng lên của trái đất phụ thuộc vào tiến bộ của khoa học kỹ thuật là một ý tưởng sai lầm. Mặc dù khoa học là quan trọng nhưng điều quan trọng hơn lại liên quan đến nguyên nhân cốt lõi trong cách cư xử tiêu cực của chúng ta: “ Cuộc khủng hoảng tinh thần ở các nước phương Tây là khởi nguyên của những đau khổ mà chúng ta phải đương đầu. Theo lối suy nghĩ nhị nguyên, Thượng Đế và thiên đường tồn tại bên ngoài và ở tương lai, nên chúng ta không nhận ra bản chất thật sự của Thượng Đế là tồn tại ngay trong mỗi người. Vì thế chúng ta cần trả Thượng Đế về đúng nơi của Ngài - trong mỗi chúng ta. Điều này cũng giống như khi sóng biết mình và nước là một.” 

“Mọi thứ chúng ta tiếp xúc trong đời sống hằng ngày, gồm cả thân xác của mình là một sự mầu nhiệm. Bằng cách trả thiên đường về đúng nơi của nó, chúng ta sẽ nhận ra cuộc sống hạnh phúc ngay đây và bây giờ. Nếu thông suốt điều này, chúng ta sẽ không chạy theo thú vui của danh vọng, quyền lực và dục tính. Nếu dừng cái nhân của thất vọng và giận dữ, chúng ta sẽ tìm lại được không gian lành mạnh.”

“Có lẽ, chúng ta có đủ kỹ thuật để bảo vệ hành tinh này nhưng lại không đủ vì mọi người chưa sẵn sàng. Đó là lý do tại sao chúng ta cần tập trung vào nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề, ô nhiễm môi trường không chỉ là vấn đề khí thải CO2 mà còn môi trường độc hại xung quanh chúng ta; nhiều người bệnh hoạn, trẻ em phải đối mặt với bạo lực và thất vọng, và nạn tư tử.”

Ô nhiễm tâm hồn

“Chúng ta nói nhiều về sự nhiễm ô tâm hồn. Khi ngồi lại và lắng nghe tiếng chuông thiền quán trong khóa tu này, chúng ta hãy lắng đọng thân tâm để tạo ra năng lượng từ bi - hùng cường thấm nhuần trong tâm hồn mỗi người. Ngược lại, chúng ta chỉ có năng lượng tập thể của sự thất vọng, giận dữ và sợ hãi. Chúng ta tạo ra môi trường hủy diệt chính mình mà không suy nghĩ về nó, mà lại chỉ nghĩ về môi trường vật lý.”

“Lối sống của chúng ta cũng là nguyên nhân của sự nhiễm ô tâm hồn. Chúng ta không đi tìm hạnh phúc mà lại chạy theo giận dữ, sợ hãi và phân biệt. Do đó, khi tham gia thiền tập, bạn sẽ có cơ hội tìm ra nguồn gốc ẩn sâu của năng lượng nhiễm ô.”

“Chúng ta có thể chuyển hóa môi trường và gặt hái năng lượng điều trị và chuyển hóa cho chính mình và con cái như thế nào? Khi các em bé tham gia khóa tu này, các em sẽ có thể thư giản như anh chị của chúng. Thiền tập cùng với nhau, chúng ta sẽ kiến tạo ra một môi trường tốt và đây là một nhóm năng lượng sạch.”


Ngài răn nhắc: “Không có ý thức tập thể, thảm họa sẽ xảy đến.” “Nhiều nền văn minh đã bị lụi tàn và nền văn minh này cũng không ngoại lệ. Nó có thể bị hủy hoại. Thời gian có thể được tính hàng triệu năm nhưng đời sống thì thật ngắn ngủi. Đối với chúng ta, vũ trụ này vận động mau lẹ nhưng thời gian địa chất thì lại khác."

Nếu hành thiền, bạn sẽ không giận dữ. Bạn thừa nhận rằng nền văn minh này có thể bị hủy hoại và sự sống sẽ bắt đầu sau đó vài ngàn năm, đó là những gì đã xảy ra trong lịch sử của hành tinh này. Khi bạn thảnh thơi trong lòng và nhận ra nó, bạn sẽ có đủ trầm tĩnh để làm mọi thứ, nhưng nếu bạn chất chứa nỗi hoài nghi thì sẽ không hi vọng làm được gì.

“Giống như người bị ung thư hay bệnh AIDS, họ biết rằng chỉ còn sống từ 6 tháng đến 1 năm. Họ rất đau khổ và phải tự đấu tranh. Nhưng nếu họ chấp nhận sự thật của cái chết và chuẩn bị sống yên vui từng ngày, tận hưởng giây phút hiện tại thì tình cảnh của họ có lẽ sẽ thay đổi và bệnh tật có thể được thuyên giảm. Điều này đã xảy ra đối với nhiều người.”

Thầy nói những cộng đồng Tiếp Hiện hình thành khắp thế giới, và cho thấy khi sống đơn giản và hạnh phúc, chúng ta sẽ có nhiều thời gian để yêu thương và giúp đỡ người khác. Điều đó lý giải tại sao nếu có nhiều cộng đồng như thế thì chúng ta sẽ xác chứng cho mọi người, đồng thời mang lại sự cảnh thức chung để mọi người từ bỏ lối sống cầu kỳ. Nếu có ý thức tập thể, chúng ta có thể giải quyết vấn đề nóng lên của trái đất. Chúng ta hãy cùng nhau khơi dậy ý thức tập thể này.

Một vị Phật thì không đủ

Ngài dừng lại trong chốc lát rồi trầm lặng nói: “Một vị Phật thì không đủ, chúng ta cần có nhiều vị Phật.”

Thầy đã có một cuộc sống rất phi thường. Trong thời gian chiến tranh Việt nam, nhiều lần ngài đã gần như sống trong đường tơ kẽ tóc khi giúp dân làng đau khổ do bom đạn. Khi đến Mỹ, ngài đã thuyết phục Martin Luther King phản đối cuộc chiến này và khơi dậy phong trào hòa bình. Trên thực tế, ông King nhận giải thưởng Nobel hòa bình năm 1968.

Trong thập niên sau đó, ngài đã sống nhiều tháng trên biển Đông để tìm kiếm và cứu giúp những người tỵ nạn Việt nam và Campuchia trên những chiếc thuyền chật ních người. Và những năm gần đây, ngài đã hướng dẫn những nghị sĩ Mỹ khóa tu 2 ngày và tổ chức những buổi hòa giải cho người Do thái và Palestin tại làng Mai.

Toàn bộ triết lý của ngài dựa trên quán hơi thở và thiền hành để đưa mọi người về hiện tại hơn là chìm đắm trong quá khứ và lo lắng về tương lai.

Ngài nói trong mỗi người vừa có hạt giống yêu thương, từ bi và hiểu biết, lại vừa có hạt giống giận dữ, ganh ghét và phân biệt. Kinh nghiệm cuộc sống phụ thuộc vào hạt giống chúng ta chọn để vun trồng. 

Để kiến lập hệ thống đạo đức mới toàn cầu và vun trồng những hạt giống tốt, nhóm Tiếp Hiện của Thầy đã tinh lọc những lời dạy của đức Phật trên nền tảng Tứ đế, Bát chánh đạo và Ngũ giới.


http://www.giacngo.vn/phathoc/2010/09/28/7AF618/

Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2010

Việt Nam is dealing with increasing climate change in various areas. Moreover, buffaloes, cows, and pigs are experiencing widespread diseases. Not only are animals potentially unsafe to eat, raising them for meat consumption also unnecessarily depletes the Earth's land-water-food resources and causes a great deal of methane gas that is related to global warming. New Year is a good time to re-examine past habits and make a new start, beginning with what we feed ourselves daily.

Loài người chúng ta đôi khi đợi đến lúc hậu quả đã xảy ra thì mới bắt đầu đối phó, thay vì giải quyết từ cội rễ. Ngày nay các thông tin khoa học cho thấy hâm nóng toàn cầu một phần lớn là do việc chăn nuôi nông súc, thải ra quá nhiều độc khí mê-tan, làm kiệt quệ tài nguyên đất-nước-thực phẩm của Địa Cầu. Thêm vào đó, bò, lợn, gia cầm v.v. ngày nay đang mang dịch chết hàng loạt. Ngoài việc thịt động vật không được vệ sinh và an toàn cho loài người tiêu thụ, một khía cạnh khác nữa là cộng đồng nhân loại, nếu muốn được sống còn, cần đi trên một nẻo đường bao dung, từ ái khi đối xử với nhau và đối xử với loài vật yếu thế hơn ta.

Cái chết của các loài nông súc qua bệnh dịch là tiếng chuông cảnh thức trái tim của loài người - một cái giá rất đắt bằng nhiều sinh mạng, đau khổ, và hy sinh của loài vật - để chúng ta nhìn lại vấn đề "nhân quả," "gieo gì gặt nấy" trong lối sống ngày nay. Năm mới 2011 là một dịp để nhìn lại những thói quen cũ và có một khởi đầu tốt đẹp hơn.

Chủ động phòng, chống ảnh hưởng của thời tiết xấu


Nguồn: Báo Nhân Dân
Đăng ngày: Thứ sáu, 31/12/2010

Mưa trái mùa gây thiệt hại sản xuất nông nghiệp Ðồng Nai * Khẩn trương khôi phục đàn lợn sau dịch tai xanh

Theo Trung tâm dự báo Khí tượng - Thủy văn T.Ư, bộ phận không khí lạnh đã ảnh hưởng đến hầu hết vùng núi phía bắc và một số nơi ở khu đông bắc Bắc Bộ, sau đó ảnh hưởng đến Trung Trung Bộ. Do ảnh hưởng của không khí lạnh tăng cường, Bắc và Trung Trung Bộ có mưa rải rác. Gió đông bắc trong đất liền mạnh cấp 3 - 4, vùng ven biển cấp 5, giật cấp 6. Các tỉnh miền bắc trời tiếp tục rét, vùng núi rét đậm, có nơi rét hại. Cần đề phòng băng giá và sương muối. Ở Vịnh Bắc Bộ có gió đông bắc mạnh cấp 6, giật trên cấp 6; vùng biển ngoài khơi Trung Bộ gió đông bắc mạnh lên cấp 7, giật cấp 8, cấp 9, biển động mạnh. Khu vực bắc và giữa Biển Ðông có gió đông bắc mạnh cấp 7, có lúc cấp 8, giật cấp 9, cấp 10, biển động mạnh. Từ hôm nay (31-12), vùng biển từ Bình Ðịnh đến Cà Mau và khu vực nam Biển Ðông gió đông bắc mạnh dần lên cấp 6, cấp 7, giật cấp 8, cấp 9, biển động mạnh.

Ðể chủ động đối phó với không khí lạnh tăng cường, Ban Chỉ đạo PCLB T.Ư vừa có công điện đề nghị các tỉnh, thành phố ven biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang, khu vực đồng bằng sông Hồng và miền núi phía bắc thông tin cho chủ tàu thuyền trên biển biết thông tin gió mùa đông bắc để chủ động phòng tránh. Kiểm soát chặt chẽ tàu thuyền, phương tiện hoạt động trên biển, giữ vững thông tin liên lạc; sẵn sàng lực lượng, phương tiện cứu hộ, cứu nạn. Các tỉnh phía bắc hướng dẫn nhân dân các biện pháp chống rét cho mạ và lúa mới cấy; chống rét cho gia súc, gia cầm và thủy sản. Các tỉnh ven biển Nam Bộ và TP HCM chủ động đối phó với vùng ngập úng và xâm nhập mặn do triều cường.

Ngày 29-12, tỉnh Ðồng Nai có mưa trái mùa ở thành phố Biên Hòa và các huyện Trảng Bom, Vĩnh Cửu, Thống Nhất và Long Thành ảnh hưởng đến năng suất của hàng chục nghìn ha cây trồng và làm nhiều diện tích trồng hoa mai, cúc nở sớm. Ðây là năm thứ ba liên tiếp có mưa trái mùa trên địa bàn nhưng lại là năm có mưa trái mùa sớm nhất chỉ sau một tháng bước vào mùa khô.

Ðồng Nai hiện có hơn 4.600 ha lúa đông xuân bị nhiễm các bệnh bạc lá, đạo ôn lá, đốm vằn, rầy nâu và ốc bươu vàng gây hại. Chi cục BVTV tỉnh khuyến cáo nhân dân thường xuyên thăm đồng, phát hiện sâu bệnh, nhất là bệnh đạo ôn để phòng trừ. Ðối với các loại cây ăn trái, cây nhà vườn cần chủ động phát hiện bệnh sớm để phòng trừ sâu bệnh theo hướng dẫn để hạn chế những thiệt hại do sâu bệnh gây ra.

Theo Chi cục Thú y tỉnh Ðiện Biên, từ ngày 15-11 đến 23-12, dịch lở mồm, long móng (LMLM) đã xảy ra ở 14 xã tại hai huyện Tuần Giáo và Mường Ảng, làm 704 con trâu, bò mắc bệnh. Còn tại tỉnh Lạng Sơn, ngày 29-12, dịch LMLM tiếp tục được phát hiện tại sáu xã, nâng tổng số xã có dịch LMLM trên địa bàn lên 55 với số gia súc mắc bệnh là 1.627; trong đó chết và tiêu hủy 208 con. Hiện tại, Chi cục Thú y cùng với chính quyền hai tỉnh trên đang thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch.

Chi cục Thú y TP Hà Nội cho biết, lượng gia súc, gia cầm được giết mổ, sơ chế tại các cơ sở, các điểm giết mổ trên địa bàn đang tăng cao do sắp đến Tết Nguyên đán. Hiện nay, TP đang tăng cường kiểm tra, kiểm soát các điểm giết mổ tập trung, các cơ sở chế biến, bảo quản, kinh doanh sản phẩm động vật. Hiện đàn gia súc, gia cầm của Hà Nội vẫn được an toàn dịch bệnh, bảo đảm cung cấp khoảng 70% nhu cầu tiêu thụ thực phẩm cho người dân.

Hiện nay, đàn bò tại thôn 4, xã Nghĩa Dũng (Quảng Ngãi) có dấu hiệu sùi bọt, biếng ăn, chân đứng không vững. Bệnh đã lây lan khắp thôn làm bảy con bò bị chết và hơn 100 con khác mắc bệnh. UBND tỉnh Ðồng Nai chỉ đạo các sở, ban, ngành, huyện, thị xã, TP chủ động khôi phục đàn lợn sau khi dịch tai xanh đã được khống chế. Theo đó, khuyến khích nhân dân phát triển chăn nuôi; quản lý tốt an toàn vệ sinh và đáp ứng nhu cầu thực phẩm của nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán, góp phần bình ổn giá cả trên địa bàn; hỗ trợ cho người chăn nuôi được khoanh nợ, giãn nợ có lợn bị tiêu hủy. Trong thời gian xảy ra dịch tai xanh, tỉnh đã tiến hành tiêu hủy 54.206 con lợn.

Tỉnh Vĩnh Long đang chủ động phòng, chống dịch cúm gia cầm, tăng cường kiểm tra, quản lý vận chuyển, kinh doanh sản phẩm gia cầm trước và trong Tết Nguyên đán. Trong tháng 12, Chi cục Thú y tỉnh đã tiêm phòng vắc-xin cúm gia cầm đợt II-2010 ở 40/107 xã, phường, thị trấn cho hơn 1,2 triệu con gia cầm.

Từ đầu năm đến nay, tỉnh Kiên Giang triển khai hai đợt tiêm phòng chính và thường xuyên tiêm bổ sung cho các hộ tái đàn gia cầm mới, với tổng số 8,3 triệu liều vắc-xin. Tuy nhiên, số vắc-xin này chủ yếu tiêm trên đàn vịt, còn lại đàn gà được tiêm chỉ chiếm 1,7% tổng đàn.

http://www.nhandan.com.vn/cmlink/nhan-dan-i-n-t/th-i-s/i-s-ng/i-s-ng-tin-chung/ch-ng-phong-ch-ng-nh-h-ng-c-a-th-i-ti-t-x-u-1.279883#xQKMZ9NXMF1E

Thứ Năm, 30 tháng 12, 2010

A Buddhist Declaration on Climate Change (please scroll down for English)

THỜI ĐIỂM HÀNH ĐỘNG LÀ BÂY GIỜ
TUYÊN NGÔN CỦA PHẬT GIÁO VỀ TÌNH TRẠNG THAY ĐỔI KHÍ HẬU

Việt dịch: Trí Tánh Đỗ Hữu Tài

Tuyên ngôn nầy xuất sinh từ sự góp sức của hơn 20 giảng sư Phật giáo thuộc mọi tông phái vào tác phẩm “Giải pháp của Phật giáo cho Tình trạng Khẩn cấp về Khí hậu”. Tuyên ngôn “Thời điểm Hành động là Bây giờ” được biên tập như một Tuyên bố liên phái của giảng sư Thiền học Tiến sĩ David Tetsuun Loy và giảng sư Phật giáo Nguyên thủy Hòa thượng Bhikkhu Bodhi, với những đóng góp về nội dung khoa học của Tiến sĩ John Stanley.

Đức Đạt Lai Lạt Ma là người đầu tiên ký Tuyên ngôn nầy.


THỜI ĐIỂM HÀNH ĐỘNG LÀ BÂY GIỜ
TUYÊN NGÔN CỦA PHẬT GIÁO
VỀ TÌNH TRẠNG THAY ĐỔI KHÍ HẬU

Hiện nay, chúng ta đang sống trong một thời đại của nhiều cuộc khủng hoảng to lớn, đương đầu với những thách thức trầm trọng nhất mà nhân loại chưa bao giờ phải đối diện: đó là hậu quả sinh thái của cộng nghiệp của chúng ta.  Sự đồng thuận khoa học thì tràn đầy: chính hoạt động của con người đang gây ra tình trạng tan vỡ môi sinh ở kích thước toàn cầu. Đặc biệt là tình trạng hâm nóng địa cầu đang xảy ra nhanh hơn những tiên đoán trước đây, rõ ràng nhất là tại Bắc Cực. Trong hàng trăm ngàn năm, Bắc Băng dương đã được phủ kín bởi một vùng biển băng đá lớn bằng châu Úc - nhưng bây giờ, vùng biển đó đang nhanh chóng tan băng. Vào năm 2007, Tiểu ban Liên quốc về Thay đổi Khí hậu (IPCC: Intergovernmental Panel on Climate Change) tiên đoán rằng Bắc Băng dương có thể sẽ không còn mùa hè băng đá vào năm 2100. Nhưng bây giờ, có vẻ tình trạng nầy sẽ xảy ra trong vòng một hay hai thập niên nữa mà thôi. Lớp băng rộng lớn của nước Greenland cũng đang tan nhanh hơn ta nghĩ. Mức nước biển sẽ tăng lên ít nhất một mét trong thế kỷ nầy - đủ để ngập lụt nhiều thành phố ven biển và vùng đồng ruộng như châu thổ sông Mêkông của Việt Nam.

Những tảng băng khắp nơi trên thế giới đang thoái lùi nhanh chóng. Nếu các chính sách kinh tế hiện nay được tiếp tục, những tảng băng ở cao nguyên Tây Tạng, vốn là đầu nguồn của nhiều con sông vĩ đại cung cấp lượng nước cho hàng tỷ người ở châu Á, sẽ biến mất trong vòng 30 năm nữa. Hạn hán trầm trọng và nạn mất mùa đang tác hại châu Úc và Bắc Trung Quốc. Những phúc trình quan trọng - của IPCC, Liên hiệp quốc, Liên hiệp Âu châu, và Liên hiệp Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên - đều đồng ý rằng nếu không có một chuyển hướng chung thì, theo vị cố vấn trưởng về khoa học của Anh Quốc, nguồn cung cấp nước, lương thực và các tài nguyên thiên nhiên khác sẽ bị hạn hẹp lại, và sẽ tạo ra các điều kiện đói kém, chiến tranh giành giựt tài nguyên, và di dân hàng loạt vào giữa thế kỷ nầy - có lẽ vào năm 2030.

Hiện tượng hâm nóng địa cầu đóng một vai trò chính yếu trong những cuộc khủng hoảng sinh thái khác, kể cả tình trạng biến mất cây cối và những chủng loại thú vật đang chia sẻ trái đất nầy với chúng ta. Các nhà hải dương học báo cáo rằng một nửa lượng khí cácbon do những chất đốt hóa thạch thải ra thì được các đại dương hấp thu, làm cho nước biển tăng 30% nồng độ axít. Tình trạng axít hóa nầy sẽ phá vỡ quy trình hóa vôi của vỏ ốc và bãi san hô, cũng như đe dọa sự tăng trưởng của plankton, vốn là đầu nguồn chuỗi thực phẩm cho hầu hết đời sống trong biển cả.

Những nhà sinh vật học đầu ngành và các phúc trình của Liên hiệp quốc đồng thuận với nhau rằng nếu “cứ vô tư như thường” thì chúng ta sẽ làm cho một nửa chủng loại trên trái đất biến mất trong thế kỷ nầy. Cùng nhau, chúng ta đang vi phạm giới thứ nhất – “không gây tổn hại cho sinh vật” - ở quy mô lớn nhất có thể đạt được. Và chúng ta không thể tiên đoán được hậu quả sinh học trên đời sống con người khi mà không biết bao nhiêu chủng loại đã đóng góp một cách vô hình cho phúc lợi của chúng ta bị biến mất trên hành tinh nầy.

Nhiều nhà khoa học đã kết luận rằng sự sống còn của nền văn minh nhân loại đang bị đe dọa. Chúng ta đã chạm đến điểm tiếp giáp nguy ngập của quá trình tiến hóa sinh học và xã hội của chúng ta. Chưa bao giờ chúng ta ở vào một thời điểm quan trọng của lịch sử như lúc nầy để cống hiến các nguồn lực của Phật giáo cho tất cả sinh vật . Tứ Diệu đế sẽ cung cấp một khung sườn để chẩn đoán tình hình hiện tại và thiết kế những tiêu chí phù hợp - vì những đe dọa và những thảm họa mà chúng ta đối mặt thì cuối cùng, bắt nguồn từ chính tâm ta, nên do đó cũng sẽ đòi hỏi những thay đổi sâu sắc trong tâm ta. Nếu đau khổ cá nhân bắt nguồn từ Tham và Si - từ tam độc Tham, Sân và Si - thì nỗi đau khổ tác hại lên chúng ta ở kích thước chung cũng thế thôi. Tình trạng cấp bách sinh thái của chúng ta là một phiên bản rộng hơn của thảm trạng viên miễn của con người. Trên cả hai bình diện cá nhân hoặc một chủng loại, chúng ta đau khổ theo nghĩa một tự ngã bị tách rời không những với người khác mà còn với chính quả đất nữa. Như thiền sư Thích Nhất Hạnh đã nói, rằng “Ở đây, chúng ta tỉnh thức khỏi ảo tưởng của sự phân cách”. Chúng ta cần thức dậy và ý thức rằng Trái đất là Mẹ của chúng ta mà cũng là Nhà của chúng ta - và trong trường hợp nầy, là cuống rốn nối vào bụng Mẹ nên không thể bị tàn phá. Khi Trái đất ngã bệnh thì chúng ta cũng bệnh theo, vì chúng ta là một phần của Trái đất.

Những quan hệ kinh tế và công nghệ hiện tại của chúng ta với những gì còn lại của bầu sinh quyển thì không bền vững. Để sống còn trong sự chuyển tiếp gập ghềnh trước mặt, cách sống và ước mong của chúng ta phải thay đổi. Điều nầy liên quan đến các thói quen mới và những giá trị mới. Phật Pháp dạy rằng toàn bộ tình trạng lành mạnh của một cá nhân cũng như của một xã hội thì tùy thuộc vào tình trạng lành mạnh nội tâm, chứ không phải chỉ những chỉ dấu kinh tế, và điều nầy sẽ giúp ta xác định được những thay đổi cá nhân và xã hội nào chúng ta cần tiến hành.

Trên bình diện cá nhân, chúng ta phải chấp nhận những ứng xử làm cho chúng ta từng ngày tăng trưởng ý thức sinh thái và giảm thiểu “dấu chân cácbon” [lượng thải GHG, greenhouse gas]. Ai sống trong các nền kinh tế tiền tiến thì cần sửa chữa và lót tấm cách nhiệt ngôi nhà và văn phòng của chúng ta cho được hiệu quả lúc dùng năng lượng; hạ máy điều nhiệt vào mùa đông và tăng lên vào mùa hè; dùng bóng đèn và đồ gia dụng có hiệu năng cao; tắt điện khi không dùng đồ gia dụng; xài loại xe nào ít tốn xăng nhất, và ít ăn thịt để thay vào đó là một chế độ ăn uống lành mạnh, dùng những loại thực vật thân thiện với môi trường.

Những hoạt động cá nhân nầy, tự nó, không đủ để tránh được thảm họa trong tương lai. Chúng ta còn phải tiến hành những thay đổi ở tầng định chế, trên cả hai lãnh vực công nghệ và kinh tế. Chúng ta phải “phi-cácbon hóa” những hệ thống năng lượng càng nhanh mà càng khả thi càng tốt, bằng cách thay thế những loại xăng dầu có gốc hóa thạch bằng những nguồn năng lượng tái tạo vô hạn, vô hại và hài hòa với thiên nhiên. Đặc biệt, chúng ta cần chấm dứt các công trình xây dựng nhà máy than đá vì than đá, cho đến nay, là nguồn năng lượng nhả cácbon vào khí trời gây nhiễm độc và nguy hiểm nhất. Nếu dùng một cách khôn ngoan thì năng lượng từ gió, năng lượng mặt trời, năng lượng từ thủy triều và năng lượng nhiệt địa có thể cung cấp cho chúng ta tất cả điện năng chúng ta cần mà không làm tổn hại đến bầu sinh quyển. Vì đến một phần tư lượng cácbon thải ra trên thế giới là do hiện tượng phá rừng, chúng ta phải đảo ngược lại tình trạng hủy hoại cây rừng, nhất là vòng đai sinh tử của rừng nhiệt đới, nơi mà hầu hết các chủng loại thực vật và động vật sinh sống.

Gần đây, điều trở nên hiển nhiên là chúng ta cần phải thay đổi cả phương cách cấu thành hệ thống kinh tế của chúng ta. Hiện tượng hâm nóng địa cầu thì quan hệ khắn khít với số năng lượng khổng lồ mà nền công nghiệp của chúng ta ngấu nghiến để cung cấp những mức độ tiêu thụ mà nhiều người trong chúng ta đã từng mong đợi. Từ góc độ Phật giáo, một nền kinh tế lành mạnh và bền vững thì phải được quản lý bởi nguyên tắc vừa đủ: chìa khóa của hạnh phúc là sự vừa lòng thay vì là tình trạng lúc nào cũng muốn thừa mứa của cải. Lực đẩy bắt ta phải tiêu thụ càng nhiều càng tốt chỉ là một biểu hiện của lòng tham, điều mà Đức Phật đã chỉ rõ là nguồn gốc của khổ đau.

Thay vì là một nền kinh tế nhấn mạnh vào lợi nhuận và đòi hỏi tăng trưởng liên tục để tránh sụp đổ, chúng ta cần cùng tiến về một nền kinh tế cung cấp cho mọi người một tiêu chuẩn sống vừa lòng mà vẫn cho phép ta triển khai toàn bộ hàm lượng (kể cả hàm lượng tâm linh) một cách hài hòa với bầu sinh quyển đang chịu đựng và nuôi sống tất cả chúng sinh, kể cả chúng sinh của những thế hệ tương lai. Nếu các nhà lãnh đạo chính trị không nhận ra tình trạng khẩn cấp của cuộc khủng hoảng toàn cầu, hoặc không muốn đặt điều tốt lành dài hạn cho nhân loại lên trên cái lợi ngắn hạn của những tập đoàn khai thác xăng dầu hóa thạch, thì có lẽ chúng ta cần thách thức họ bằng những chiến dịch hành động của người công dân.

Gần đây, tiến sĩ James Hansen của Cơ quan Quản trị Không gian NASA và nhiều chuyên gia Khí tượng khác đã xác định được những mục tiêu chính xác để ngăn ngừa hiện tượng hâm nóng địa cầu khỏi tiến đến “đỉnh điểm” thảm họa. Để nền văn minh nhân loại được bền vững, mức độ thán khí CO2 trong khí quyển không được quá 350 ppm (parts per million). Mục tiêu nầy được Đức Đạt Lai Lạt Ma cùng với các khôi nguyên Nobel và khoa học gia lỗi lạc khác tán thành. Tình trạng hiện nay của chúng ta rất đáng lo ngại vì mức độ hiện nay đã là 387 ppm, và mỗi năm tăng thêm 2 ppm. Không những chúng ta bị thách thức phải giảm thiểu lượng thải cácbon mà còn phải chuyển dời số lượng lớn khí cácbon đã có sẵn trong bầu khí quyển.

Là những người ký tên vào tuyên bố các nguyên tắc của Phật giáo, chúng tôi ghi nhận sự thách thức khẩn cấp về thay đổi khí hậu. Chúng tôi cùng theo Đức Đạt Lai Lạt Ma tán thành mục tiêu 350 ppm. Theo lời Phật dạy, chúng tôi chấp nhận trách nhiệm cá nhân và tập thể để làm những gì có thể được hầu đạt được mục tiêu nầy, kể cả (nhưng không giới hạn trong) những đáp ứng cá nhân và đáp ứng xã hội phác thảo ở trên.

Chúng ta chỉ có một khoảng thời gian ngắn với cơ hội để hành động, để giữ gìn cho nhân loại khỏi rơi vào thảm họa trước mắt và để giúp cho sự sống còn của nhiều dạng thái cuộc sống khác biệt và xinh đẹp của Trái Đất. Những thế hệ tương lai, và những chủng loại khác  đang chia sẻ bầu sinh quyển với chúng ta, không có được tiếng nói để kêu gọi lòng từ bi, trí tuệ và sự lãnh đạo của chúng ta. Chúng ta phải lắng nghe sự im lặng của họ. Chúng ta cũng phải là tiếng nói của họ, và vì họ, chúng ta hành động.


The Declaration that follows will present to the world's media a unique spiritual view of climate change and our urgent responsibility to address the solutions. It emerged from the contributions of over 20 Buddhist teachers of all traditions to the book A Buddhist Response to the Climate Emergency. “The Time to Act is Now” was composed as a pan-Buddhist statement by Zen teacher Dr. David Tetsuun Loy and senior Theravadin teacher Ven. Bhikkhu Bodhi with scientific input from Dr. John Stanley.

The Dalai Lama was the first to sign this Declaration.
 

The Time to Act is Now
A Buddhist Declaration on Climate Change

Today we live in a time of great crisis, confronted by the gravest challenge that humanity has ever faced: the ecological consequences of our own collective karma. The scientific consensus is overwhelming: human activity is triggering environmental breakdown on a planetary scale. Global warming, in particular, is happening much faster than previously predicted, most obviously at the North Pole. For hundreds of thousands of years, the Arctic Ocean has been covered by an area of sea-ice as large as Australia—but now this is melting rapidly. In 2007 the Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC) forecast that the Arctic might be free of summer sea ice by 2100. It is now apparent that this could occur within a decade or two. Greenland’s vast ice-sheet is also melting more quickly than expected. The rise in sea-level this century will be at least one meter—enough to flood many coastal cities and vital rice-growing areas such as the Mekong Delta in Vietnam.

Glaciers all over the world are receding quickly. If current economic policies continue, the glaciers of the Tibetan Plateau, source of the great rivers that provide water for billions of people in Asia, will disappear within 30 years. Severe drought and crop failures are already affecting Australia and Northern China. Major reports—from the IPCC, United Nations, European Union, and International Union for Conservation of Nature—agree that, without a collective change of direction, dwindling supplies of water, food and other resources could create famine conditions, resource battles, and mass migration by mid-century—perhaps by 2030, according to the U.K.’s chief scientific advisor.

Global warming plays a major role in other ecological crises, including the loss of many plant and animal species that share this Earth with us. Oceanographers report that half the carbon released by burning fossil fuels has been absorbed by the oceans, increasing their acidity by about 30%. Acidification is disrupting calcification of shells and coral reefs, as well as threatening plankton growth, the source of the food chain for most life in the sea.

Eminent biologists and U.N. reports concur that “business-as-usual” will drive half of all species on Earth to extinction within this century. Collectively, we are violating the first precept—“do not harm living beings”—on the largest possible scale. And we cannot foresee the biological consequences for human life when so many species that invisibly contribute to our own well-being vanish from the planet.

Many scientists have concluded that the survival of human civilization is at stake. We have reached a critical juncture in our biological and social evolution. There has never been a more important time in history to bring the resources of Buddhism to bear on behalf of all living beings. The four noble truths provide a framework for diagnosing our current situation and formulating appropriate guidelines—because the threats and disasters we face ultimately stem from the human mind, and therefore require profound changes within our minds. If personal suffering stems from craving and ignorance—from the three poisons of greed, ill will, and delusion—the same applies to the suffering that afflicts us on a collective scale. Our ecological emergency is a larger version of the perennial human predicament. Both as individuals and as a species, we suffer from a sense of self that feels disconnected not only from other people but from the Earth itself. As Thích Nhất Hạnh has said, “We are here to awaken from the illusion of our separateness.” We need to wake up and realize that the Earth is our mother as well as our home—and in this case the umbilical cord binding us to her cannot be severed. When the Earth becomes sick, we become sick, because we are part of her.

Our present economic and technological relationships with the rest of the biosphere are unsustainable. To survive the rough transitions ahead, our lifestyles and expectations must change. This involves new habits as well as new values. The Buddhist teaching that the overall health of the individual and society depends upon inner well-being, and not merely upon economic indicators, helps us determine the personal and social changes we must make.

Individually, we must adopt behaviors that increase everyday ecological awareness and reduce our “carbon footprint”.  Those of us in the advanced economies need to retrofit and insulate our homes and workplaces for energy efficiency; lower thermostats in winter and raise them in summer; use high efficiency light bulbs and appliances; turn off unused electrical appliances; drive the most fuel-efficient cars possible, and reduce meat consumption in favor of a healthy, environmentally-friendly plant-based diet.

These personal activities will not by themselves be sufficient to avert future calamity. We must also make institutional changes, both technological and economic. We must “de-carbonize” our energy systems as quickly as feasible by replacing fossil fuels with renewable energy sources that are limitless, benign and harmonious with nature. We especially need to halt the construction of new coal plants, since coal is by far the most polluting and most dangerous source of atmospheric carbon. Wisely utilized, wind power, solar power, tidal power, and geothermal power can provide all the electricity that we require without damaging the biosphere. Since up to a quarter of world carbon emissions result from deforestation, we must reverse the destruction of forests, especially the vital rainforest belt where most species of plants and animals live.

It has recently become quite obvious that significant changes are also needed in the way our economic system is structured. Global warming is intimately related to the gargantuan quantities of energy that our industries devour to provide the levels of consumption that many of us have learned to expect. From a Buddhist perspective, a sane and sustainable economy would be governed by the principle of sufficiency: the key to happiness is contentment rather than an ever-increasing abundance of goods. The compulsion to consume more and more is an expression of craving, the very thing the Buddha pinpointed as the root cause of suffering.

Instead of an economy that emphasizes profit and requires perpetual growth to avoid collapse, we need to move together towards an economy that provides a satisfactory standard of living for everyone while allowing us to develop our full (including spiritual) potential in harmony with the biosphere that sustains and nurtures all beings, including future generations. If political leaders are unable to recognize the urgency of our global crisis, or unwilling to put the long-term good of humankind above the short-term benefit of fossil-fuel corporations, we may need to challenge them with sustained campaigns of citizen action.

Dr. James Hansen of NASA and other climatologists have recently defined the precise targets needed to prevent global warming from reaching catastrophic “tipping points.” For human civilization to be sustainable, the safe level of carbon dioxide in the atmosphere is no more than 350 parts per million (ppm). This target has been endorsed by the Dalai Lama, along with other Nobel laureates and distinguished scientists. Our current situation is particularly worrisome in that the present level is already 387 ppm, and has been rising at 2 ppm per year. We are challenged not only to reduce carbon emissions, but also to remove large quantities of carbon gas already present in the atmosphere.

As signatories to this statement of Buddhist principles, we acknowledge the urgent challenge of climate change. We join with the Dalai Lama in endorsing the 350 ppm target. In accordance with Buddhist teachings, we accept our individual and collective responsibility to do whatever we can to meet this target, including (but not limited to) the personal and social responses outlined above.

We have a brief window of opportunity to take action, to preserve humanity from imminent disaster and to assist the survival of the many diverse and beautiful forms of life on Earth. Future generations, and the other species that share the biosphere with us, have no voice to ask for our compassion, wisdom, and leadership. We must listen to their silence. We must be their voice, too, and act on their behalf.


http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-90_4-4824_5-50_6-2_17-65_14-1_15-1/

Thứ Tư, 29 tháng 12, 2010

In the face of climate change, there have been plans for "geoengineering" to save the Earth from global warming. The processes seem costly and convoluted, while a simple solution is at hand: for each responsible citizen to adopt a plant-based diet to salvage a much-destroyed planet from humans' careless and callous treatment of important resources (land, water, air etc.). But who are the responsible citizens that will stand up and deliver? We only need to ask ourselves.

Những dự án thay đổi tình trạng địa cầu

Nguồn: Thanh Niên Online/Quyên Quân
Đăng ngày: 29 tháng 12, 2010

(TNO) Thuật ngữ "geoengineering" có thể hiểu là “những can thiệp kỹ thuật một cách trực tiếp để sửa đổi tình trạng địa cầu theo ý con người cho dễ sống hơn”.

Trong một cuộc chạy đua để cứu hành tinh khỏi sự hủy diệt của hiện tượng ấm dần lên toàn cầu, giới khoa học đã đưa ra nhiều biện pháp quyết liệt.

Họ khởi xướng việc đưa những tấm gương khổng lồ vào không gian, tạo ra các núi lửa giả, xây dựng những cỗ máy “ăn” carbon!

Những kế hoạch như thế thường dễ dàng bị gạt bỏ nhưng mọi chuyện đã khác với nhiều dự án xuất hiện từ cuối những năm 1970.

Tuy nhiên, phải đến năm 2006, geoengineering mới bắt đầu được biết đến rộng rãi. Nhà hóa học đoạt giải Nobel và là người bảo vệ tầng ozone Paul Crutzen đã đăng một bài xã luận khoa học về đề tài này trong chuyên san Climate Change (Biến đổi khí hậu).

Và gần đây, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học East Anglia (Anh) công bố đánh giá toàn diện đầu tiên về các dự án geoengineering bao quát nhất từng được đưa ra.

Đối với mỗi kế hoạch được đề xuất, các nhà khoa học đều tính toán một giá trị gọi là "cưỡng bức bức xạ", một dạng chỉ số được áp dụng cho việc lập mô hình khí hậu để thể hiện ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và nhân tạo đối với Trái đất.

Kể từ khi kỷ nguyên công nghiệp bắt đầu, loài người chúng ta là nguyên nhân lớn đẩy chỉ số cưỡng bức bức xạ lên đến 1,6, một giá trị có thể dễ dàng tăng gấp đôi trong tương lai. Mục tiêu của geoengineering là làm giảm con số đó.

Dưới đây là những dự án đáng chú ý nhất dựa trên phương pháp luận của Đại học East Anglia, theo Discovery.

Tăng cường tầng mây trên biển

Kịch bản này do giáo sư Stephen Salter thuộc Đại học Edinburgh đề xướng bằng cách sử dụng tàu chạy bằng sức gió để phun nước biển vào không khí nhằm tăng độ tương phản cho các đám mây.

Mô hình hóa lý thuyết cho thấy, kỹ thuật này sẽ có hiệu quả nhất trong vùng đại dương mở, cách ly với sự ô nhiễm do con người tạo ra. Độ phản xạ tích lũy đủ sẽ hoạt động giống như một vành nón rộng che phủ Trái đất.

Đại học East Anglia phát hiện ra rằng tăng cường đám mây ở quy mô này sẽ cho ta chỉ số cưỡng bức bức xạ là -3,71. Tuy nhiên, theo nhận định của Naomi Vaughan, một nhà nghiên cứu cùng trường với giáo sư Salter, “có những quan ngại về ảnh hưởng đến tầng ozone”.

Ngoài ra, chúng ta cần ít nhất 1.000 tàu biển để thực hiện công việc này. Ngay cả khi đạt hiệu quả cao nhất, sự phản xạ ánh mặt trời cũng sẽ khó đảo ngược thiệt hại trên diện rộng do sự ấm lên toàn cầu gây ra, chẳng hạn như hiện tượng a-xít hóa trên các đại dương.

Phun khí tầng bình lưu

Theo cách hiểu đơn giản thì phun khí tầng bình lưu là việc các hạt rất nhỏ được xịt vào lớp giữa của bầu khí quyển Trái đất.

Chuyên gia Crutzen đề xuất ý tưởng này như một công cụ khả dĩ trong cuộc chiến chống lại sự ấm lên toàn cầu, lấy cảm hứng từ vụ phun trào của ngọn núi lửa Pinatubo ở Philippines hồi năm 1991. Pinatubo từng nhả ra những dải tro bụi cao hơn 35.000 mét vào trong không khí và mạnh đến mức làm giảm nhiệt độ trung bình toàn cầu.

Để làm được điều này theo cách nhân tạo, chúng ta sẽ cần tới một chuyến bay bằng máy bay giống loại dùng cho quân sự hoặc thậm chí cả bóng bay để phát tán các hạt khí.

Dù Đại học East Anglia đã đánh giá phương pháp này có cùng các độ cưỡng bức bức xạ giống kế hoạch nước biển là -3,71 nhưng các nhà khoa học cho rằng nó cũng đem lại những rủi ro tương tự.

Gương phản xạ trong không gian

Đó chính là những tấm gương khổng lồ trong không gian được sử dụng để làm chệch hướng ánh sáng mặt trời. Nên biết rằng, chúng ta đã có một trạm không gian quốc tế, những tàu thăm dò trên sao Hỏa và khoảng 8.000 vật thể nhân tạo bay quanh Trái đất, do đó, ý tưởng này cũng không phải là hoàn toàn xa vời.

Đối với lựa chọn này, Đại học East Anglia đã xem xét ý tưởng của chuyên gia thiên văn học Roger Angel thuộc Đại học Arizona. Angel ước tính rằng chúng ta sẽ cần phải phóng lên hàng ngàn tỉ chiếc gương vào không gian để tạo thành một chiếc dù che nắng trải rộng hơn 160.000 km.

Cũng giống như các mô hình phun khí, gương phản xạ không gian có độ cưỡng bức bức xạ -3,71 nhưng thách thức cũng rất đáng kể.

Công tác hậu cần cho việc phóng số gương khổng lồ này có thể mất nhiều thập niên, chi phí cũng thuộc loại “trên trời” trong khi các tấm gương có thể cần phải thay thế sau 50 năm.

Kế hoạch này cũng sẽ đòi hỏi một cam kết xuyên thế hệ đầy ấn tượng. Không nản lòng, Angel đã xin tài trợ từ Cơ quan Hàng không và Không gian Mỹ và nhà phát minh người Anh đang thử nghiệm với một mẫu thử pháo phóng gương quy mô nhỏ.

Than củi

Nhánh cây, phân gà và các loại chất thải hữu cơ khác thường vương vãi khắp nơi, sinh ra khí carbon dioxide khi chúng phân hủy.

Chuyển đổi hoàn toàn lượng sinh khối này thành nhiên liệu vẫn còn là một quá trình nhưng đun vật liệu từ từ có thể biến nó thành một loại than sinh học được gọi là than củi.

Hiện tượng cháy chậm được gọi là nhiệt phân ngăn chặn sự hình thành CO2 và giữ lại gần một nửa lượng carbon của vật liệu.

Than sinh học cũng vẫn bền theo thời gian và có thể có tác động tích cực đến độ mầu mỡ của đất và sản lượng cây trồng.

Johannes Lehmann, giáo sư về khoa học đất đai và cây trồng thuộc Đại học Cornell, tính toán rằng áp dụng phương pháp than sinh học quy mô lớn tại Mỹ có thể cô lập khoảng 10% lượng khí thải hằng năm từ nhiên liệu hóa thạch của nước này.

Tính đến năm 2100, nếu chúng ta thống nhất áp dụng, than sinh học có tác dụng làm mát tương đương với -0,4 độ cưỡng bức bức xạ.

Cây nhân tạo và máy lọc không khí khác

Phương pháp này liên quan đến việc thu giữ khí carbon dioxide thông qua công nghệ hóa học hoặc sản xuất năng lượng sinh khối. Từ đó, CO2 được tập trung trong tầng chứa nước mặn hoặc các vùng dưới lòng đất từng là nơi chứa dầu khí.

Nhà khoa học về khí hậu David Keith thuộc Đại học Calgary đang chế tạo một máy hút khí có thể kéo 20 tấn CO2/mét vuông ra khỏi bầu khí quyển mỗi năm.

Tương tự như vậy, chuyên gia địa vật lý Klaus Lackner thuộc Đại học Columbia đã phát triển "cây nhân tạo" hút khí CO2 tốt hơn nhiều so với cây thật. Chúng ta cần khoảng hàng trăm ngàn cái máy cao chót vót này để xử lý với lượng khí thải hằng năm - một thách thức cả về kinh tế và lẫn tính thẩm mỹ tương tự như với các turbine gió.

Trong khoảng 90 năm nữa, các kế hoạch thu giữ và lưu trữ không khí quyết liệt nhất sẽ đạt độ cưỡng bức bức xạ -1,99. Đó không phải là -3,71 nhưng cũng là kết quả đáng khích lệ.

http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201053/20101229091706.aspx

Thứ Tư, 13 tháng 10, 2010

Bạn thân mến,

13 tháng 10 là Ngày Quốc tế Giảm Nhẹ Thiên Tai (International Day for Natural Disaster Reduction) của Liên Hiệp Quốc.

Theo VOVNews:

“Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, tình trạng thiên tai trên thế giới đang ở mức báo động cao, trong vòng ba thập kỷ qua, do tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu, số lượng thiên tai đã tăng lên gấp ba lần. Số lượng nạn nhân do thiên tai gây ra lại tăng gấp đôi sau mỗi chu kỳ 10 năm.

Việt Nam thuộc vào nhóm các nước sẽ chịu hậu quả nặng nhất của thay đổi khí hậu. Vấn đề này không còn là của tương lai mà là thực tế đã và đang diễn ra trong bối cảnh ngày càng có nhiều diễn biến thời tiết khó lường và nạn lũ lụt. Những nguy cơ gắn với thay đổi khí hậu đặt Hà Nội và nhiều tỉnh thành khác trong cả nước trước những thách thức đặc biệt trong phát triển bền vững.

Ông Nguyễn Văn Gia, Điều phối Chương trình Cứu trợ khẩn cấp – Liên minh cứu trợ trẻ em (Mỹ, Anh, Nhật Bản, Thuỵ Điển) thuộc Nhóm sáng kiến mạng lưới vận động chính sách về giảm nhẹ thiên tai (JANI) chia sẻ: 


Với sự kiện “Các thành phố thích ứng với thiên tai– Thành phố của tôi đã sẵn sàng” được tổ chức tại Hà Nội, JANI mong muốn cùng với Hà Nội thực hiện tốt chiến lược truyền thông nâng cao nhận thức trong toàn xã hội về nguy cơ rủi ro từ thiên tai và biến đổi khí hậu, tuyên truyền các biện pháp phòng ngừa, quản lý và giảm nhẹ rủi ro dựa vào cộng đồng, đặt cộng đồng ở vị trí trung tâm khi đưa ra quyết định và khi thực hiện các hoạt động giảm nhẹ rủi ro. Những nỗ lực từ phía chính phủ và các tổ chức quốc tế sẽ góp phần xây dựng các thế hệ công dân có kiến thức về thiên tai để chủ động phòng tránh cho bản thân, gia đình và cộng đồng, góp phần vào công cuộc phát triển bền vững của đất nước.”

Việt Nam thuộc vào nhóm các nước sẽ chịu hậu quả nặng nhất của thay đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu và rủi ro thiên tai ngày càng rõ rệt. Địa Cầu cần quân bình để có một tương lai bền vững. Nhưng quá nhiều ô nhiễm, khí thải, hoang phí tài nguyên trái đất, phá rừng v.v. tất cả đều đưa đến những ảnh hưởng không hay. Chúng ta đã chuẩn bị sẵn sàng chưa cho những thiên tai có thể giáng xuống nơi mình đang ở bất cứ lúc nào? Và chuẩn bị bằng cách nào?

Về mặt vật chất, ta có thể dùng những cách bên ngoài như xây hầm tránh bão, xây nhà trên núi tránh lụt, v.v. nhưng đây chỉ là đối phó với triệu chứng chứ không đi vào gốc rễ của vấn đề.

Nếu ta tin vào một quy luật rất hợp lý của vũ trụ là “gieo gì gặt nấy” (“Thật vậy, ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy.” – Kinh Tân Ước, Thư Gửi Tín Hữu Ga-Lát, 6:7) thì những tàn phá mà chúng ta gieo cho các giống loài khác và cho nhau, sẽ có ngày tích tụ thành những quả đắng. Việc mất mát, chia ly, chết chóc là điều những người bình thường không muốn bao giờ.

Trên hành tinh, đừng giẫm lên nhau mà hãy "bước rất nhẹ như mây mềm dưới gót.” Hãy thương yêu, nhường nhịn. Hãy ngưng chém giết. Hãy ăn chay để tạo phước cho hiện kiếp và về sau. Đó là cách giảm nhẹ thiên tai và giúp Địa Cầu này thành một thiên thai.
 

Thứ Ba, 31 tháng 8, 2010

Phú Yên là một tỉnh ven biển, phía bắc giáp tỉnh Bình Định, phía nam giáp Khánh Hòa, phía tây giáp Đăk Lăk và Gia Lai, phía đông giáp biển Đông.

Phú Yên có 3 sông chính - sông Đà Rằng, sông Bàn Thạch, , sông Kỳ Lộ - và nhiều suối nước khoáng nóng như: Phú Sen, Triêm Đức, Trà Ô, Lạc Sanh. Các tài nguyên trong lòng đất bao gồm diatomite, đá hoa cương nhiều màu, vàng sa khoáng.

Cánh đồng Tuy Hòa là cánh đồng lúa rộng nhất miền Trung Việt Nam. Nông nghiệp ở Phú Yên chủ yếu là lúa, mía, cây hoa màu.

Bãi Môn (Tuy Hòa, Phú Yên)
Quang cảnh thiên nhiên ở Phú Yên đa dạng, có núi, cao nguyên, đồng bằng châu thổ, sông, hồ, đầm, vịnh, hải đảo, rất nên thơ, hùng vĩ, như Gành Đá Dĩa, Đầm Ô Loan, Núi Đá Bia, Vịnh Xuân Đài, Bãi Môn, Mũi Điện.

Tên Phú Yên do chúa Nguyễn Hoàng đặt vào năm 1611, mang ước nguyện về một miền đất trù phú, thanh bình trong tương lai.

Ngày nay, tác động của biến đổi khí hậu tại Phú Yên là một vấn đề nghiêm trọng.

Một vài hành động và giải pháp cụ thể mà mỗi cá nhân có thể làm:
1. ngưng đốn rừng,
2. ngừa thai để giảm dân số,
3. tổ chức nông nghiệp trồng rau cải hữu cơ, đáp ứng nhu cầu ăn chay để tiết kiệm tài nguyên cho mọi người dân đều có đủ miếng ăn,
4. làm điều lành, tránh điều dữ, đối đãi tốt và đùm bọc lẫn nhau,
5. sám hối những lỗi lầm đã qua nếu có và cầu nguyện cho Phú Yên sớm được trù phú yên bình.

Trích đoạn bài viết của Tiến sĩ  NGUYỄN THÀNH QUANG
Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên
đăng trên báo Phú Yên ngày thứ năm, 26-08-2010

TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ ỨNG PHÓ

Nói về biến đổi khí hậu, các nhà khoa học trên toàn thế giới đã nghiên cứu, chứng minh rằng tất cả những hiện tượng dị thường như: El nino, La nina, tan băng Nam Cực, trái đất nóng dần lên v.v… đều có nguyên nhân từ con người gây ra cả. Họ kêu gọi các nhà lãnh đạo của các quốc gia trên toàn thế giới xây dựng chương trình cắt giảm khí thải để làm giảm bớt hiệu ứng nhà kính của trái đất. Họ kêu gọi toàn nhân loại hãy bảo vệ và sống thân thiện hơn với môi trường thiên nhiên.

Biến đổi khí hậu ở Phú Yên cũng không nằm ngoài thực trạng chung của toàn cầu và của quốc gia.

Nói đến biến đổi khí hậu ở Phú Yên, không thể không quan tâm đến sự biến đổi của rừng.

Bản dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ (2010 - 2015) đưa ra con số đánh giá độ che phủ rừng khá lạc quan 34,9%, nếu tính cả diện tích cây trồng phân tán là 41,3%. Đó là con số chỉ tiêu còn quá khiêm tốn so với yêu cầu phòng hộ bền vững. Tuy nhiên, tôi nghĩ: con số thực sẽ còn thấp xa so với con số báo cáo. Xin mời lãnh đạo hãy đi thị sát một vòng theo đường vòng cung từ dãy núi Đèo Cả đến Sông Hinh, qua Phước Tân, Vân Hòa đến Phú Mỡ, Làng Đồng, Phú Hải, Xuân Lãnh, Đa Lộc... rừng còn đâu?

Những cánh rừng đại ngàn một thời nay còn đâu nữa. Nếu không nhìn thấy đất trống, đồi trọc thì chỉ nhìn thấy núi xanh màu lá nhưng không thấy có cây.

Xin dẫn chứng một điển hình: Công trình thủy điện Sông Hinh, niềm tự hào của tỉnh Phú Yên. Hồ chứa của nó có dung tích khoảng 350 triệu m3 nước, nằm ở độ cao 115 mét. Những năm trước vành đai phòng hộ bao quanh bờ hồ ở phía đông là rừng nguyên sinh, nhiều cây cổ thụ, thế mà nay đứng ở sân văn phòng nhà máy Thủy điện Sông Hinh phóng tầm mắt nhìn từ đỉnh Dốc Phường ở phía nam đến hút tầm mắt về phía bắc dãy rừng phòng hộ hồ thủy điện nay chỉ thấy toàn là đồi trọc, nương rẫy sắn.

Rừng phòng hộ xung yếu bảo vệ công trình thủy điện bị phá sạch không biết trách nhiệm thuộc về ai? Núi hết cây, trời mưa, núi lở, đập vỡ, đó chẳng phải là nỗi lo thảm họa hay sao?

Quan sát trong chuỗi thời gian vài chục năm lại đây, chúng ta thấy diễn biến tác động của biến đổi khí hậu ở Phú Yên biểu hiện các dạng như:

- Mưa lụt lớn, xảy ra dày hơn, thời gian xuất hiện đỉnh lũ rất nhanh, xuất hiện lũ quét nhiều hơn;

- Lụt úng cục bộ nhiều vùng hơn, nhiều vùng hàng bao đời không biết lụt, nay bị ngập thiệt hại do chủ quan, bất ngờ.

- Xói lở đôi bờ của các dòng sông diễn ra phức tạp hơn, nhiều điểm hơn, núi lở, lòng sông bồi lấp, khô kiệt dòng chảy về mùa khô.

- Mỗi khi có triều cường, gió to, sóng lớn làm xói lở vùng cửa sông, bờ biển diễn ra ngày càng ác liệt.

- Hạn hán, nắng nóng, nhiệt độ tăng cao đột biến.

- Lốc xoáy, bão to, ác liệt hơn.

Ứng phó với thiên tai, bão lụt là những hành động của con người có ý thức nhằm phòng tránh tổn thất, rủi ro, hoặc làm giảm thiểu thiệt hại khi thiên tai xảy ra. Nó là công việc thường xuyên, cấp bách và lâu dài của mọi cấp chính quyền và người dân.

Phương châm công tác ứng phó là dựa vào nguồn lực tại chỗ là chủ yếu, lực lượng tăng viện là thứ yếu. Kế hoạch ứng phó nên có kế hoạch thường xuyên và kế hoạch chiến lược. Tổ chức rút kinh nghiệm ứng phó mùa trước, bổ sung kinh nghiệm cho kế hoạch mùa sau là việc làm thành nền nếp, cần tổ chức sớm và bổ sung kịp thời các biện pháp, tránh chủ quan.

Xây dựng bổ sung mạng lưới quan trắc khí tượng, thủy văn cảnh báo sớm, nhất là khu vực đầu nguồn của các con sông lớn. Như trên sông Kỳ Lộ nên bố trí ngay trạm đo mưa tại nhà máy thủy điện La Hiên.

Do địa hình có biến đổi, nên cho triển khai việc điều tra, rà soát, bổ sung các điểm đỏ (là những điểm xung yếu có nguy cơ thiệt hại khi bão lũ, triều cường, xói lở) trên bản đồ toàn tỉnh. Từ đó, cảnh báo cho người dân, giao nhiệm vụ cho chính quyền huyện, xã chuẩn bị phương án phòng tránh chủ động. Nơi nào có điều kiện, có kế hoạch di dời sớm ra khỏi vùng đỏ.

Tổ chức các đội xung kích ứng phó thiên tai tại thôn, xã, được tập huấn công tác cứu hộ, chuẩn bị phương tiện, trang bị cần thiết (sõng nan, phao cứu sinh, bao tải, đá hộc, túi thuốc cấp cứu...) do chủ tịch xã chỉ huy. Những vật tư, vật dụng, trang bị thiết yếu được ngân sách cân đối chi từ quỹ phòng chống thiên tai.

Về lâu dài, cần có một chiến lược dài hạn ứng phó tích cực, chủ động cho từng vùng. Ở vùng đồng bằng, ven biển, đầu tư đê, kè chống xói lở bờ sông, ven biển. Đặc biệt là ở những nơi xung yếu. Tổ chức di dời, tái định cư những vùng thấp thường xuyên bị ngập sâu, vùng các hẻm núi, triền dốc núi dễ sạt lở.

Ngoài việc chú trọng những vùng sạt lở ven sông, suối, có phương án dự phòng di dời, hoặc di dời sớm.

Cần chú trọng xây dựng và thực hiện chiến lược sản xuất nông - lâm nghiệp bền vững, làm tốt chức năng phòng hộ đầu nguồn.

Trước hết cần kiểm soát, quản lý số đồng bào di cư tự do từ phía bắc vào. Vì cần đất sản xuất họ phát, đốt rừng hết sức nghiêm trọng.

Trong báo cáo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 của tỉnh xây dựng chỉ tiêu kế hoạch phát triển rừng rất lạc quan: “Phát triển quỹ đất lâm nghiệp đến năm 2010: 245.000ha, năm 2020: 310.000ha. Trong đó rừng phòng hộ: khoảng 122.000ha - 130.000ha. Phân bổ chủ yếu ở khu vực núi cao phía bắc, phía nam và phía tây thuộc địa bàn các huyện Sông Cầu, Đồng Xuân, Sông Hinh, Sơn Hòa, Tây Hòa và vùng ven biển” (trang 117 Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể... PY).

Thực tiễn phát triển ngành lâm nghiệp Phú Yên hơn 30 năm qua cho thấy luôn có sự tương quan tỉ lệ nghịch giữa dân số và đất lâm nghiệp. Dân số càng tăng thì đất lâm nghiệp càng giảm.

Quy hoạch đưa ra chỉ tiêu trong 10 năm tới tăng cho lâm nghiệp 65.000 ha? (mỗi năm 6500ha). Con số quá lớn, căn cứ thực tiễn kết quả trồng rừng của 10 năm trước ta có căn cứ để suy luận là tính khả thi của con số kế hoạch nêu trên là rất thấp.

Có thể hiểu đến năm 2020, cơ cấu kinh tế - xã hội Phú Yên đã bước vào giai đoạn công nghiệp. Nguồn sống của người dân nông thôn hiện nay chủ yếu bằng nông nghiệp, sẽ chuyển sang nguồn sống chủ yếu bằng công nghiệp và dịch vụ? Thật là thần kỳ. Chúng ta ước mong sao được như thế.

Nhưng hiện tại là hơn 70% dân số Phú Yên sống ở nông thôn đang phải luôn luôn đối mặt với vấn đề bát cơm manh áo hàng ngày. Nguồn sống vẫn là từ nông nghiệp là chủ yếu. Trong 10 năm tới chắc chắn không thể có biến đổi lớn về cơ cấu kinh tế - xã hội ở Phú Yên. Việc tranh chấp đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp sẽ còn tranh nhau quyết liệt.

Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn các huyện miền núi Phú Yên chủ yếu là trên địa hình đất đồi, đất dốc, chịu sự tác động rất lớn của biến đổi khí hậu: Mùa nắng bị khô hạn. Mùa mưa bị bào mòn, rửa trôi chất mùn, xói lở rất dữ dội.

...Một công việc không thể thiếu đó là: Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục rộng rãi trong nhân dân về ý thức phòng tránh thiên tai. Phải tuyên truyền, giáo dục thường xuyên, liên tục để tạo thành thói quen. Làm gì cũng phải nghĩ đến đảm bảo an toàn khi có bão lụt. Từng bước xây dựng thành ý thức cộng đồng, từng bước xây dựng các định chế về an toàn chống lụt bão phù hợp với thực tiễn của địa phương.


http://www.baophuyen.com.vn/Trangch%E1%BB%A7/X%C3%A3h%E1%BB%99i/tabid/141/GId/141/itemIndex/9/NId/53181/Default.aspx
 

Thứ Hai, 30 tháng 8, 2010

Việt Nam thuộc Top 10 nước chịu nhiều thiên tai nhất
Bài viết: Đại Dương

(Dân Trí) - Khu vực Đông Nam Á được đánh giá là một trong những khu vực chịu nhiều thiệt hại nhất và dễ bị tổn thương nhất của biến đổi khí hậu… Riêng Việt Nam là 1 trong số 10 nước trên thế giới chịu tác động lớn nhất.

Sáng 25/8, Hội nghị châu Á về đánh giá tác động thiên tai đã chính thức khai mạc tại TP Huế. Tham gia hội nghị có hơn 60 chuyên gia đầu ngành đến từ 20 quốc gia trên thế giới, đại diện Liên hiệp quốc, các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ.

Hội nghị do Trường đại học Kinh tế, Đại học Huế đăng cai tổ chức với sự tài trợ của Dự án Microdis thuộc Chương trình hành động 6 của Ủy ban châu Âu và được điều phối bởi Trung tâm dịch tễ học thảm họa (CRED), Vương quốc Bỉ.

Trong ba ngày từ 25 đến 27/8, các đại biểu tham dự hội nghị nghe và thảo luận về các tham luận như: Quản lý rủi ro thiên tai ở khu vực châu Á Thái Bình Dương, đặc biệt ở Việt Nam; Sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan trong quá trình lập kế hoạch ứng phó thiên tai ở Đà Nẵng, Quy Nhơn, Cần Thơ; Đánh giá tác động thiên tai ở châu Á;…

Thống kê của tổ chức CRED cho thấy, thiên tai ở châu Á chiếm gần 40% của thế giới và thiệt hại do thiên tai gây ra tại châu Á chiếm gần 60% trong tổng số thiệt hại do thiên tai gây ra trên toàn thế giới. Nghiên cứu năm 2008 của GS Hermi Francisco, Chương trình Môi trường Đông Nam Á cho thấy khu vực châu Á đã phải gánh chịu 85% số lượng các loại thiên tai và 75% tổng giá trị thiệt hại từ giai đoạn 1980 đến 2005 của toàn Thế giới.

Khu vực Đông Nam Á được đánh giá là một trong những khu vực chịu nhiều thiệt hại nhất và dễ bị tổn thương nhất của biến đổi khí hậu do các loại thiên tai liên quan như lụt, mực nước biển dâng, hạn hán… Đặc biệt, Đông Nam Á còn được xem là vùng “rốn bão” của Thế giới. Riêng Việt Nam là 1 trong số 10 nước trên thế giới chịu tác động lớn nhất của thiên tai và biến đổi khí hậu.

Hội nghị lần này được tổ chức tại Huế nhằm mục đích chia sẻ, đánh giá những tác động thiên tai, thảo luận về những giải pháp ứng phó hữu hiệu từ các nước trên thế giới để cộng đồng các nước châu Á có kỹ năng đối phó với thiên tai một cách tốt nhất.

Tổ chức Khí tượng Thế giới gần đây đã khẳng định mức độ tích tụ carbon dioxide và các chất gây hiệu ứng nhà kính đạt mức cao hơn bao giờ hết. Đây là hậu quả tất yếu dẫn đến thay đổi khí hậu, kéo theo sự tăng lên về tần suất, cường độ các loại thiên tai trên thế giới.

Những ví dụ cụ thể như hiện tượng khô hạn xảy ra liên tiếp trong 2 năm 2009-2010 ở Australia, Việt Nam và Châu Phi; hiện tượng băng tan ở hai cực với ghi nhận độ lớn khủng khiếp của tảng băng tách ra ở Alaska là 250km; gần đây nhất là lũ lụt và sạt lở đất ở Trung Quốc và Pakistan đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, xã hội, sức khỏe, đặc biệt là với cộng đồng dân cư nghèo.

Hội nghị lần này cũng là dịp để các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, đại diện các tổ chức quốc tế trong, ngoài nước chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm nhằm tìm ra giải pháp hiệu quả trong việc phòng ngừa và giảm thiểu những tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu.

http://dantri.com.vn/c20/s20-417976/viet-nam-thuoc-top-10-nuoc-chiu-nhieu-thien-tai-nhat.htm


 

Thứ Năm, 26 tháng 8, 2010

Hàng năm có 1 tỷ người thiếu ăn trên thế giới.
Sau đây là bài viết của Chu Hồng Thắng trên báo Nhân Dân, hôm qua, ngày 25-08-2010 (chữ in đậm của Việt Nam Ăn Chay). Cám ơn báo Nhân Dân và các cơ quan truyền thông quan tâm loan báo những tin cập nhật và trung thực về tình trạng của Địa Cầu. Với nạn biến đổi khí hậu gây thiệt hại mùa màng và dân số trên đà tăng vọt, lương thực toàn cầu chắc chắn sẽ không sao bảo đảm để nuôi sống cả hành tinh này.

Dân ta có câu "miếng ăn là miếng tồi tàn." Mà thật vậy, khi không có ăn, đói khát xảy ra, người ta sẽ dễ tranh giành, chiến tranh, bạo động. Chúng ta phung phí quá nhiều tài nguyên cho việc trồng ngũ cốc để đánh đổi miếng thịt, trong khi hàng năm có ít nhất 1 tỷ người trên thế giới thiếu ăn (theo thống kê Liên Hiệp Quốc năm 2009).

Nhân loại ơi, những bạn trẻ, những nhà trí trức, những người lãnh đạo, những người thông minh, những người xinh đẹp, hãy giúp một tay và đồng lòng ăn chay để tiết kiệm vô số kể tài nguyên (đất, nước, không khí, nhân lực, sức khỏe con người, sức khỏe Địa Cầu, sức khỏe tâm linh), xem tình hình có khả quan được chút nào không, trước khi chúng ta cùng đưa nhau đến bờ vực thẳm chỉ vì... miếng ăn.

Thời tiết bất thường đe dọa an ninh lương thực toàn cầu

ND - Giá ngũ cốc trên thị trường thế giới hạ nhiệt khi có dự báo mưa tại phần lớn châu Âu, nhất là ở Nga - nước xuất khẩu lúa mì lớn thứ ba trên thế giới. Những "cơn mưa vàng" cuối tuần qua tại Nga không chỉ làm giảm sức nóng từ thảm họa cháy rừng ở nước này, mà còn giúp kéo giá ngũ cốc tại Mỹ và châu Âu giảm khoảng 5%, làm dịu nguy cơ lặp lại khủng hoảng lương thực thế giới, từng xảy ra năm 2008. Tuy nhiên, các hiện tượng thời tiết bất thường tiếp tục đe dọa an ninh lương thực toàn cầu.

Nguy cơ một cuộc khủng hoảng lương thực thế giới được cảnh báo từ đầu tháng 8, khi giá lúa mì trên thị trường thế giới tăng chóng mặt, hơn 70% so một tháng trước đó. Giá các mặt hàng ngũ cốc tăng 50% kể từ tháng 6, mức tăng lớn nhất trong 30 năm qua. Nguyên nhân trực tiếp đẩy giá ngũ cốc tăng vọt chính là những dự báo thiếu lạc quan về tình hình mùa vụ ở các quốc gia sản xuất ngũ cốc hàng đầu thế giới, do các hiện tượng thời tiết bất thường, như nóng hạn ở Nga, Nhật Bản và lũ lụt nghiêm trọng ở Trung Quốc, Pa-ki-xtan, Ấn Ðộ...

Ðợt nắng nóng và khô hạn vừa qua được ghi nhận là nghiêm trọng nhất trong 130 năm qua ở Nga, kèm theo cháy rừng trên diện rộng đã phá hủy hơn 20% vụ mùa, ước tính làm giảm một phần tư sản lượng ngũ cốc của Nga trong vụ này. Dự báo, tổng sản lượng ngũ cốc năm nay của Nga chỉ đạt 60 đến 65 triệu tấn, giảm mạnh so mức 97 triệu tấn năm 2009 và 108 triệu tấn năm 2008.

Các chuyên gia cảnh báo, mức thiệt hại do thiên tai tại quốc gia chiếm 8% sản lượng lúa mì thế giới này có thể làm giảm 1,6% tổng nguồn cung lúa mì toàn cầu. Tình hình xấu đến mức các chuyên gia cảnh báo Nga có thể phải nhập khẩu tới 5 triệu tấn ngũ cốc trong niên vụ 2010 - 2011 và là lần đầu trong 10 năm qua. Chính phủ Nga bác bỏ việc phải nhập khẩu ngũ cốc, nhưng ban hành lệnh cấm tạm thời việc xuất khẩu ngũ cốc, từ ngày 15-8 đến hết 31-12 năm nay [2010]. Tổng thống Nga Ð.Mét-vê-đép chỉ thị Chính phủ theo dõi chặt chẽ tình hình giá cả, ngăn chặn đầu cơ lương thực.

Lũ lụt nghiêm trọng đang đe dọa làm sụt giảm sản lượng nông nghiệp của Trung Quốc, quốc gia sản xuất 35% sản lượng gạo toàn cầu. Theo Cơ quan Dự trữ lương thực quốc gia Trung Quốc, sản lượng gạo của nước này năm nay ước giảm khoảng 10%. Tại nhiều vùng sản xuất lúa chủ yếu bị ảnh hưởng lũ lụt, như Giang Tây và An Huy, sản lượng có thể giảm tới 20% hoặc 30%.

Hai vựa lúa khác ở châu Á là Ấn Ðộ và Pa-ki-xtan, vốn chiếm tới 15% thị phần thế giới, cũng đang phải vật lộn với trận lũ lụt lớn nhất trong lịch sử, phải kêu gọi viện trợ quốc tế để khắc phục hậu quả thiên tai. Các khu vực sản xuất lúa mì lớn khác của thế giới cũng đang hứng chịu những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt. Khu vực Biển Ðen điêu đứng vì hạn hán. Tại Ca-na-đa, nước xuất khẩu lúa mì lớn nhất thế giới, mưa lớn kéo dài có thể làm sản lượng lúa mì năm nay của nước này giảm tới 36%...

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp LHQ (FAO) cảnh báo sẽ hạ mức dự báo sản lượng lúa mì của thế giới trong năm nay, thậm chí không đưa ra dự đoán về sản lượng của Nga. Sau Nga, một số nước xuất khẩu ngũ cốc lớn như U-crai-na và Ca-dắc-xtan, hai vựa lúa mì khác của thế giới, cũng cân nhắc việc tạm ngừng xuất khẩu mặt hàng này, nhằm bảo đảm an toàn lương thực và kiềm chế tăng giá lương thực trong nước.

Thực tế khó khăn kể trên, cùng với giá các loại ngũ cốc trên thế giới tăng vọt đã dấy lên mối lo ngại lặp lại cuộc khủng hoảng lương thực năm 2008, do nhiều chính phủ đồng loạt cấm xuất khẩu gạo, đẩy giá gạo lên hơn 1.100 USD/tấn, thậm chí dẫn đến cướp bóc lương thực, bạo loạn... Tuy nhiên, các số liệu của giới chuyên gia lương thực quốc tế cho thấy, tại thời điểm hiện nay an toàn lương thực của thế giới vẫn chưa tới ngưỡng nguy hiểm. Tỷ lệ dự trữ lương thực ở mức 26%, cao hơn mức 20% khi xảy ra khủng hoảng lương thực 2 năm trước đây. Trong đó phải kể đến các kho dự trữ gạo lớn, như Trung Quốc 40 triệu tấn, Ấn Ðộ 30 triệu tấn... Dự báo vụ mùa bội thu sắp tới ở Ô-xtrây-li-a [Úc] và Mỹ nhờ thời tiết thuận lợi có thể góp phần làm giảm sức ép về giá lương thực trên thế giới.

Tuy nhiên, giới chuyên gia vẫn cảnh báo, các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt bất thường, hậu quả trực tiếp từ tình trạng biến đổi khí hậu, sẽ dẫn đến sụt giảm sản lượng lương thực, đe dọa an ninh lương thực toàn cầu. Báo cáo của Viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế cho rằng, hiện tượng tan băng khiến nước biển dâng trung bình một mét vào cuối thế kỷ 21 sẽ gây tác hại nghiêm trọng các diện tích lúa được trồng tại các vùng châu thổ và duyên hải địa hình thấp tại châu Á. Lượng khí thải CO2 và nhiệt độ tăng có thể làm giảm 10% sản lượng lúa gạo.

Trong khi đó, báo cáo "Chỉ số nguy cơ an ninh lương thực năm 2010" LHQ vừa công bố cho thấy, Áp-ga-ni-xtan đứng đầu tốp 10 quốc gia có nguy cơ lớn nhất về an ninh lương thực. 36 trong 50 quốc gia được cảnh báo đối mặt nguy cơ cao về lương thực là các nước ở khu vực nam sa mạc Xa-ha-ra ở châu Phi. Lũ lụt ở Pa-ki-xtan và nắng hạn ở Nga cũng là những yếu tố làm tăng nguy cơ về an ninh lương thực tại hai quốc gia này trong năm tới. FAO ước tính, thế giới hiện có 1 tỷ người thiếu ăn. Ðể nuôi sống 9 tỷ người vào năm 2050, thế giới phải tăng gấp đôi sản lượng nông nghiệp. LHQ khuyến cáo các nước quay trở lại đầu tư phát triển nông nghiệp, cũng như thúc đẩy đàm phán nhằm sớm đạt được một thỏa thuận toàn cầu về ứng phó với biến đổi khí hậu.

http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=45&sub=83&article=182086


 

Thứ Sáu, 20 tháng 8, 2010

Trẻ em nheo nhóc vì vắng cha mẹ ở xóm Hòn Nen, 
xã Mã Thành, Yên Thành, Nghệ An. 
Ảnh: Nguyễn Dũng.

Một cánh ruộng khô cháy 
ở xã Thanh Tùng, huyện Thanh Chương, Nghệ An. 
Ảnh: Trường Long. 

Xin chân thành cảm ơn bài phóng sự chi tiết nhưng không kém phần đau xót, ngậm ngùi của Trường Long – Dũng Nguyễn đăng trên VNExpress, nói lên thực trạng của hâm nóng toàn cầu, một vấn nạn cả thế giới không còn chọn lựa để làm ngơ.

Căn nhà Địa Cầu là gia sản chung của mọi người, và một điều ta có thể chủ động là làm sạch nơi mình ở. Gieo nhân tốt, được quả lành, đó là định luật từ xưa đến nay. Đừng giết thì sẽ không bị giết.

Mong tất cả công dân toàn cầu hãy cố gắng thuần chay để bàn ăn thôi là bãi chiến trường đẫm máu, bởi việc sát sinh là biểu tượng rõ rệt của hủy diệt và chết chóc. Khi bạn gieo sự sống, sự sống sẽ bao quanh bạn. Amen.

Hạn hán, cả nghìn người tha hương kiếm sống

Năm nay nắng nóng và hạn hán kéo dài, đồng ruộng nứt nẻ, núi đồi khô cháy, người dân nhiều vùng quê miền Trung đang ồ ạt tha hương, tìm đường kiếm sống.

Mã Thành là xã miền núi của huyện Yên Thành (Nghệ An), từ xưa vẫn nổi tiếng là vùng đất “chó ăn đá, gà ăn sỏi”. Mấy năm trước, người dân nghèo nơi đây điêu đứng vì loài sinh vật lạ mọc trên đồng ruộng, lấn át cây lúa rồi đến đại dịch vàng lùn xoắn lá. Chưa kịp vực dậy sau những đợt dịch liên tục thì năm nay, người dân nơi đây lại phải chống chọi với hạn hán, nắng nóng khốc liệt nhất từ trước tới nay. Hàng trăm hecta ruộng nứt nẻ, không thể canh tác; hầu hết các khe suối, hồ đập đều cạn khô đáy, các giếng khơi trong làng cũng lần lượt hết nước.

Trước viễn cảnh mùa màng thất bát, đói ăn vì thiên tai, sâu bệnh, dân làng đã rủ nhau tha hương kiếm sống. Hầu hết thanh niên trai tráng, những lao động chính trong các gia đình, đều tìm cách vào Nam hay ra Hà Nội để tìm việc làm.
 

Ông Trần Đình Luân, xóm trưởng xóm Lũy trầm giọng kể: “Xóm tui là một trong những xóm mất mùa đau nhất. Bà con ở đây đều trông chờ vô hạt lúa nhưng lúc thì sâu bệnh, khi lại cỏ dại, giờ lại hạn hán, thiếu nước nên dân làng bỏ đi làm thuê, làm mướn khắp nơi. Xóm có 127 hộ thì hầu như hộ nào cũng có người bỏ làng đi làm thuê, có nhà đi cả hai vợ chồng”.
 

Anh Nguyên xóm Hòn Nen thở dài: “Cũng không ai muốn rời làng kiếm sống nhưng đi làm thuê còn kiếm được ngày vài ba chục ngàn gấp mấy lần làm ruộng. Nếu không đi, cứ tiếp tục sống ở nhà với trung bình mỗi gia đình ba đến bốn đứa con đang tuổi ăn, tuổi học, thì khốn!”
 

Ông Phan Minh Trọng, Chủ tịch UBND xã Mã Thành cho biết, toàn xã có 1460 hộ, 7054 nhân khẩu, người xa quê đi kiếm sống hầu như năm nào cũng có, nhưng năm nay do mất mùa, hạn hán, toàn xã có 375 hecta thì mất mùa đến 90% nên người dân đi làm ăn xa tăng đột biến - gần một nghìn người.
 

Thanh niên, người lớn ồ ạt rời quê, để lại xóm làng toàn là người già yếu, trẻ em khiến cho làng xóm ngày càng vắng bóng, ruộng đồng, vườn tược bỏ hoang. Chợ phiên của xã ngày trước luôn đông đúc, kẻ mua người bán tấp nập nhưng nay rất ít. Không khí buồn tẻ bao trùm cả vùng quê nghèo.
 

Tha hương để kiếm tiền, vượt qua cái đói, để lại con cái, ruộng vườn, nhà cửa cho người khác trông hộ, rất nhiều em bé ở phải sống trong cảnh xa hơi ấm bố mẹ, nheo nhóc cùng ông bà.
 

Năm nay đã hơn 60 tuổi nhưng ông Nguyễn Biểu ở xã Thanh Tùng (huyện Thanh Chương, Nghệ An) vẫn phải chăm bẵm đứa cháu nội mới hơn 1 tuổi. Mấy tháng sau khi cháu sinh, bố mẹ chúng cùng nhau vào Nam kiếm sống, để lại con cho ông bà chăm sóc. “Ở đây, rất nhiều bậc ông bà phải chấp nhận cảnh như vậy để bố mẹ chúng đi làm ăn. Xa bố mẹ, những đứa trẻ này thiếu thốn đủ bề. Nhiều lúc, đang đêm, cháu nó tỉnh dậy khóc gọi mẹ, ông bà thương cháu quá, cùng nhau ôm cháu mà khóc”, ông Biểu thở dài ngao ngán.
 

Theo thống kê chưa đầy đủ của ngành lao động thương binh xã hội huyện Diễn Châu (Nghệ An), ở huyện có trên 20.000 lao động đi làm công nhân các tỉnh phía Nam, hoặc làm ăn xa nhà. Theo đó, có trên 3.000 trẻ em phải sống xa bố, mẹ, trong đó có khoảng 2.000 trẻ sống xa cả bố và mẹ. Hiện tượng này còn xảy ra rất nhiều ở các huyện khó khăn như Vũ Quang, Hương Khê, Can Lộc… của tỉnh Hà Tĩnh.
 

Một giáo viên tiểu học ở huyện Diễn Châu cho biết, hầu hết học sinh có cha mẹ đi làm ăn xa, lực học và hạnh kiểm giảm sút so với trước khi bố mẹ chưa đi. Cha mẹ đi làm ăn xa tạo nên một khoảng trống lớn trong ngôi nhà, trong các em. Nhận thức, suy nghĩ, hành động của con trẻ, tất nhiên còn nhiều bồng bột, non nớt, dễ dẫn đến sai lầm, dễ bị cái xấu cám dỗ. Nhà trường chỉ dạy dỗ một phần, chứ không thể gánh vác thêm vài trò làm cha làm mẹ cho học sinh.
 

Miền Trung vẫn đang phải đối mặt với hạn hán gay gắt, sau hạn hán sẽ là mưa lũ rồi đói rét. Những ông bố, bà mẹ, những thanh niên trai tráng miền Trung vẫn tiếp tục bỏ làng ra đi. Phía sau những lần ra đi ấy là sự trống vắng, hoang vu của xóm làng và những em bé đang dật dờ lầm lũi bên ông bà người thân vì thiếu vắng cha mẹ.

http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/07/3BA1DA71/



 

Thứ Tư, 2 tháng 6, 2010




Tin mới nhất: “LIÊN HIỆP QUỐC KÊU GỌI TOÀN CẦU CHUYỂN SANG LỐI ẨM THỰC KHÔNG THỊT, KHÔNG BƠ SỮA”

Bài tường thuật của Felicity Carus, Phó chủ bút phát hành, mục Môi trường, nhật báo Guardian, Anh quốc, đăng hôm nay, ngày 2 tháng 6, 2010, nguyên văn tiếng Anh, BBT Việt Nam Ăn Chay chuyển ngữ. 

Một chuyển hướng sang lối dinh dưỡng thuần chay vô cùng cần thiết để cứu vãn thế giới khỏi nạn đói, thiếu thốn nhiên liệu và những nguy hại tàn khốc nhất của biến đổi khí hậu, bản báo cáo của Liên Hiệp Quốc cho biết hôm nay.

Bản báo cáo từ Ủy ban Quốc tế Quản lý Tài nguyên Bền vững, thuộc Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) cho biết trong khi dân số toàn cầu dự đoán sẽ tăng vọt lên 9,1 tỷ người vào năm 2050, khẩu vị kiểu Tây phương với lối ăn uống nhiều thịt và các sản phẩm bơ sữa quả thật không bền vững.

Bản báo cáo viết: "Ảnh hưởng nông nghiệp dự đoán sẽ gia tăng rất nhiều do dân số phát triển, khiến việc tiêu thụ sản phẩm thú vật cũng gia tăng. Không như nhiên liệu hóa thạch, khó mà tìm sự chọn lựa thay thế: con người ta phải ăn.
Việc giảm thiểu tác động đáng kể chỉ có thể xảy ra khi có một thay đổi lớn trên toàn thế giới trong lối dinh dưỡng, tránh những sản phẩm động vật.”

Giáo sư Edgar Hertwich, tác giả chính của bản báo cáo, nói: "Các sản phẩm thú vật gây nhiều tai hại hơn là [sản xuất] những vật liệu xây cất như cát hoặc xi-măng, nhựa hoặc kim loại. Sinh khối và mùa màng trồng cho loài vật nguy hại tương đương bằng nhiên liệu hóa thạch [đang cháy].”

Đề nghị này theo lời khuyên năm ngoái của Ngài Nicholas Stern, nguyên cố vấn của chính phủ Lao Động về kinh tế của biến đổi khí hậu, rằng ăn chay tốt hơn cho Địa Cầu. Tiến sĩ Rajendra Pachauri, chủ tịch Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC), cũng đã kêu gọi mọi người ăn chay một ngày trong tuần để giảm khí thải các-bon.

Ủy ban gồm các nhà chuyên gia đã xếp hạng những sản phẩm, tài nguyên, sinh hoạt kinh tế và vận chuyển trên cán cân ảnh hưởng môi trường. Các vị này cho biết nông nghiệp đồng hạng với việc tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch vì cả hai đều nhanh chóng gia tăng khi nền kinh tế phát triển.

Ernst von Weizsaecker, một khoa học gia về môi sinh và đồng chủ tịch Ủy ban, nói: "Khi sự giàu có gia tăng, điều này kéo theo một chuyển hướng về lối ăn nhiều thịt và sản phẩm bơ sữa – nông súc ngày nay tiêu thụ rất nhiều vụ mùa trên thế giới và do đó, cũng tiêu thụ rất nhiều nguồn nước sạch, phân bón, và thuốc diệt sâu.”

Bản báo cáo cho biết cả hai lãnh vực năng lượng và nông nghiệp cần “tách rời” khỏi sự gia tăng về mặt kinh tế vì ảnh hưởng môi trường tăng khoảng 80% mỗi khi mức lợi tức lên gấp đôi.

Achim Steiner, Phó tổng thư ký Liên Hiệp Quốc và Giám đốc điều hành Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP), nói: "Thoát khỏi tàn phá môi trường là thử thách hàng đầu mà các chính quyền đang đối diện trong một thế giới đang tăng dân số, tăng lợi tức, tăng đòi hỏi tiêu thụ, và nỗi khó khăn dai dẳng của việc giảm nghèo.”

Uỷ ban đã sử dụng rất nhiều nghiên cứu, kể cả “Đánh giá Hệ sinh thái Thiên niên kỷ,” và nêu lên những áp lực môi trường sau đây để trở thành những ưu tiên của các chính phủ vòng quanh thế giới: biến đổi khí hậu; thay đổi môi trường sống; phung phí ni-tơ và phốt-pho trong phân bón; lạm dụng quá mức việc đánh cá, các khu rừng và những tài nguyên khác; các chủng loại bị xâm lăng; nước uống không an toàn và không vệ sinh; phơi nhiễm chì; ô nhiễm không khí thành thị; và phơi nhiễm hạt vật chất trong ngành nghề.

Nông nghiệp, nhất là cho thịt và các sản phẩm bơ sữa, chiếm 70% việc tiêu thụ nước sạch, 38% tổng số đất đai, và 19% khí thải nhà kính của thế giới - bản báo cáo cho biết như trên. Tài liệu sẽ được giới thiệu vào thứ bảy này để trùng hợp với Ngày Môi trường Thế giới của Liên Hiệp Quốc.

Năm vừa qua, Tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc báo cáo rằng, tính đến năm 2050, việc sản xuất thực phẩm toàn cầu phải gia tăng 70% mới nuôi nổi dân số tăng vọt của thế giới. Ủy ban cho biết hiệu suất nông nghiệp sẽ bị choáng ngợp bởi dân số gia tăng theo dự đoán.

Giáo sư Hertwich, cũng là giám đốc của chương trình sinh thái kỹ nghệ tại Đại học Khoa học và Kỹ thuật Na Uy, nói rằng các quốc gia đang phát triển – nơi phần đông sự gia tăng dân số này sẽ diễn ra - không nên theo gia tăng tiêu thụ kiểu Tây phương: “Các quốc gia đang phát triển không nên theo mô hình của chúng tôi. Nhưng cũng tùy chúng tôi chọn lựa để phát triển kỹ thuật, chẳng hạn như năng lượng bền vững hoặc các phương pháp tưới nước.” 

 
nghe nhạc trực tuyếnNấu món chay | học nấu ăn DJ - Ảnh đẹp | xalotinnhanh