Thứ Ba, 7 tháng 12, 2010

(For our English-speaking friends:
"Living in Awareness" is a beautiful book by the Venerable Thích Thông Phương in Vietnamese. The Venerable discusses what is living, and what is living consciously. He emphasizes the practice of living in mindfulness, which is different from talking about or understanding in theory. 

In the following excerpt, Master Thích Thông Phương mentions a couple of Zen stories, one of which is a variation of the popular "Every-minute Zen." It goes something like this:

Zen students are with their masters at last ten years before they presume to teach others. Nan-in was visited by Tenno, who, having passed his apprenticeship, had become a teacher.

The day happened to be rainy, so Tenno wore wooden clogs and carried an umbrella. After greeting him Nan-in remarked: "I suppose you left your wooden clogs in the vestibule. I want to know if your umbrella is on the right or left side of the clogs."

Tenno, confused, had no instant answer. He realized that he was unable to carry his Zen every minute. He became Nan-in's pupil, and he studied six more years to accomplish his every-minute Zen.
)

Sách "Sống Tỉnh Giác”
Thích Thông Phương

Trích đoạn:

"Sống Tỉnh Giác" là sống tỉnh chứ không còn ngủ mê nữa. Đây là đi vào thực hành chứ không phải là học, hiểu, hay lý luận suông. Lâu nay quý vị học, hiểu nhiều rồi, lý luận cũng nhiều rồi, bây giờ điều quan trọng là phải thực hành, tức là phải sống thực, mà có sống thực thì mới nếm được pháp vị hay thiền vị chân thật.

I- SỐNG LÀ GÌ ?

Quý vị có khi nào đặt câu hỏi lại, lâu nay mình sống trên đời, nhưng sống là gì? Mình sống phải biết sống là gì, ai sống, cuộc sống này là của ai, thì đó mới là cuộc sống thực sự. Còn sống mà không biết sống là gì, cũng không biết ai sống nữa, vậy là sống làm sao? Phật gọi sống như vậy cũng giống như chết.

Thông thường người ta hiểu sống là ăn, là ngủ, là mặc, là vui chơi, thụ hưởng cái này, cái nọ, tạo tác những sự nghiệp này, sự nghiệp khác. Nói đơn giản lại, sống tức là hoạt động, hoạt động này, hoạt động nọ, đó là sống, còn ngưng hoạt động là chết. Cho nên, nhiều người nghĩ rằng mình phải tranh thủ thụ hưởng cho kịp thời, chứ để chết là hết, không kịp hưởng.

Hiểu như vậy cho nên khi sống tạo nghiệp này, nghiệp kia không lường được.

Trái lại, người hiểu đạo là sống phải tỉnh, phải giác chứ không phải sống trong cơn mê, nghĩa là sống phải mở mắt sáng tỏ.

Nếu không như vậy, đối với người trong đạo thì sống cũng như chết, sống mà không biết gì là mình. Dù cho mình có hoạt động, có tới lui rõ ràng nhưng thiếu cái tỉnh giác này thì giống như thiếu cái hồn.

Bởi vậy, ở đây khi đặt câu hỏi lại, sống là gì, cái gì sống, hay là ai sống, thì không biết, trả lời không rõ ràng. Cuộc sống của mình, sao đặt câu hỏi lại trả lời không được? Người học đạo, hiểu đạo là phải rõ ràng chỗ này. Câu hỏi này ai trả lời chính xác được? Phải mỗi người tự trả lời mới là chính xác hơn hết. Vì cuộc sống này là cuộc sống của mình, nếu thầy có trả lời, cũng là trả lời cho các thầy thôi, còn mỗi người phải tự trả lời thì mới là câu đáp chính xác nhất, cuộc sống mới đúng ý nghĩa là sống.

II- THẾ NÀO LÀ SỐNG TỈNH GIÁC?


Bây giờ đặt câu hỏi thứ hai, thế nào là sống tỉnh giác?

Bởi vì mình học đây là học sống, không thể nói suông được. Từng bước là phải đi vào thực hành.

Người đời do có tập khí mê lầm từ vô lượng kiếp tới giờ, cho nên sống, rồi làm việc, tạo tác toàn theo nghiệp vô minh. Bị nghiệp dẫn, chi phối, nên sống mà không có tự chủ. Đó là sống mất mình.

Mà vô minh là cái gì? Vô minh là mê lầm, chấp ngã, không phải ta mà chấp là ta, từ chỗ đó tạo bao nhiêu nghiệp, dẫn đi vào trong sanh tử luân hồi. Trong kinh Viên Giác, Phật định nghĩa thật rõ ràng. Vô minh là:

- Thứ nhất: Chấp thân tứ đại là mình.

- Thứ hai: Chấp tâm duyên theo bóng dáng sáu trần, cho đó là mình, là ta.

Không phải mình mà chấp lầm là mình, đó là vô minh, mê lầm. Trong đây có ai không chấp cái đó? Sự thật ai sinh ra trong thế gian này đều mang cái vô minh đó hết, hoặc ít hoặc nhiều, vì nếu không có vô minh chấp ngã thì không vào trong cõi này. Vào trong đây là vì mình có tình chấp ngã. Do tình chấp ngã cho nên sống với cái hư dối, quên mất mình.

Quý vị ngồi đây, tay đang lặt rau chẳng hạn, hoặc đang ngồi nghe pháp, tâm có ở đây không? Ngồi trên ghế đây nhưng có lúc tâm chạy ra ngoài đường, hoặc là chạy về nhà. Ngồi đây, mà tâm ở chỗ khác, như vậy rõ ràng là mình sống thân ở một nơi, tâm ở một nơi, sống không có hồn, gọi là sống như chết. Giống hệt như người nằm mơ, thân đang ở trên giường, đầu ở trên gối, mà lúc đó thấy mình đi chơi đủ thứ chỗ.

Thời Phật có câu chuyện, Tăng Hộ cháu đang đứng quạt cho Thầy mình là Tăng Hộ chú. Tăng Hộ cháu được cúng dường hai xấp vải, định đem cúng Thầy, cũng là chú của mình, nhưng Thầy không nhận. Ông cảm thấy buồn, nghĩ rằng chú mình không thương mình, không có tình chú cháu nữa. Vậy thì mình bán hai xấp vải cho rồi, để kiếm ít tiền cưới vợ, sắm xe. Sau đó sanh con, sẽ bồng đến để lễ ông chú. Trên đường đi ông nói với vợ:

- Đưa con anh bồng giúp cho.

Người vợ không chịu, hai người giằng qua giằng lại, đứa nhỏ rớt xuống đường, ông tức quá bảo:

- Mụ này không nên thân gì hết.

Định gõ đầu vợ một cái, lại trúng đầu Thầy. Lúc đó, vì có tha tâm thông nên ông chú biết hết:

- Chú gõ không trúng đầu vợ, mà trúng đầu ta rồi.

Như vậy là sao? Tăng Hộ cháu tuy đứng quạt hầu Thầy mà đang sống ở đâu đâu! Như vậy gọi là sống cũng như chết, có thân mà không có hồn, sống mất mình.

Giờ mình học thiền, là học sống trở về thực tại, sống tỉnh giác trở lại, thân ở đâu, thì tâm phải ở chỗ đó, đó là sống thiền. Mà phải thực hành chứ không nói suông. Ví dụ quý vị cầm ly nước uống, thì phải cầm thế nào, phải uống như thế nào cho có ý nghĩa. Cầm ly nước là phải tỉnh, biết rõ ràng mình đang cầm ly nước, hớp vào biết rõ ràng mình đang hớp nước, nghĩa là mình phải có mặt ngay ly nước đó.

Ngồi đây nghe pháp cũng vậy, biết rõ mình đang ngồi đây. Đang nghe pháp đây, là mình phải có mặt ngay chỗ này. Phải tập sống trở về thực tại như vậy, tức là có mặt chính mình ngay lúc này, thì mới gọi là thực sống. Nếu khi đang lặt rau mà tâm nghĩ chuyện khác, nghĩ chuyện đi chợ chẳng hạn, phải đặt câu hỏi lại, đang lặt rau đây còn ai đi chợ đó? Liền tỉnh trở lại, quay về ngay cái thực tại đang lặt rau, đó là mình thắp sáng thực tại, là mình đang sống thiền.

Cũng vậy, mình đang nói chuyện vui vẻ, chợt có câu nói nào chạm tự ái, trong bụng hơi nổi bực lên, mình phải biết và tỉnh ngay, cái gì tự ái, vì sao lại bất thường như vậy? Mình đặt câu hỏi lại để sống trở về với thực tại.

Sự thật cuối cùng chỉ vì một cái tôi thôi, mà nó che mờ ánh sáng thực tại, làm khuất lấp nguồn tâm của mình. Mà cái tôi đó là cái tôi hư dối, từ vô minh mà chấp. Cho nên mình phải tỉnh trở lại, sống trở về thực tại.

Hoặc khi mình có một nỗi buồn thì phải nhớ kỹ, thân này là do đất, nước, gió, lửa hòa hợp. Vậy trong bốn chất đó, cái gì buồn? Đất là vô tri đâu biết buồn. Nước cũng vô tri, đâu có biết buồn! Gió, lửa cũng vậy. Đất nước gió lửa là cái vô tri, không biết buồn, vậy thì chỉ còn cái ta buồn! Mà cái gì là ta? Đó chỉ là một khái niệm tưởng tượng thôi, tưởng tượng trong này có một cái ta, rồi lời nói kia đụng tới cái ta này, nên tự ái, tự ái rồi buồn. Nhưng bây giờ xét kỹ lại, đem cái ta đó ra xem, thì đem không được.

Cho nên phải xét kỹ để cởi mở nó và sống trở lại với ánh sáng tỉnh giác. Đó gọi là sống thiền. Còn không, là bị nghiệp dẫn sống trong vô minh, sống mất mình, quên mất thực tại.

Những điều này mình học thì hiểu nhanh lắm, nhưng tới mấy lúc đó thì quên hết.

Trong nhà thiền có câu chuyện, Thiền sư Tenno sau một thời gian theo học thiền với Thiền sư Nan-in, cảm thấy đủ sức nên xin Thầy xuống núi. Khi vào thất để đảnh lễ xin phép Thầy, Thầy nói:

- Cũng tốt, nhưng lúc nãy, trước khi vào đây, con để cái dù bên phải hay bên trái ?

Ông ngập ngừng. Thầy nói:

- Thôi, ở ba năm nữa.

Đó là quên mất thực tại rồi. Lúc đó chỉ lo nhớ vô để xin xuống núi thôi. Ở thêm một thời gian, ông lại xin xuống núi, bất ngờ Thầy hỏi:

- Lúc nãy vào đây con bước chân nào lên thềm trước?

Ông cũng ngập ngừng, Thầy bắt ở thêm ba năm nữa. Thời gian sau, tin rằng mình lúc nào cũng nhớ vì đã hai lần có kinh nghiệm, nên ông vào thất Thầy xin xuống núi lần nữa. Lúc đó trời có gió mạnh. Thầy gật đầu bảo:

- Tốt rồi, nhưng con đóng cửa sổ giùm Thầy rồi hãy đi xuống.

Ông mừng quá, đi đóng cửa sổ, nhưng đóng mạnh tay, lại thêm gió mạnh nên vang thành tiếng.
Thầy bảo:

- Thôi chưa được, ở thêm mấy năm nữa.

Đó là thiếu tỉnh giác. Thành ra quý vị thấy, học thiền, hiểu thiền nhưng tới sống thiền thật không đơn giản. Phải sống từng phút từng giây, gọi là thiền trong từng phút giây. Tức là phải thực sống, sống ngay thực tại, nghĩa là lúc nào mình cũng phải có mặt.

Có câu chuyện “Kính Chuông Như Phật”. Một vị thiền sư Nhật Bản một hôm ngồi thiền xong, gọi thị giả hỏi xem ai thỉnh chuông sáng hôm nay. Thị giả thưa:

- Là ông Sa di mới tới.

Ngài bảo gọi ông Sa di đến, hỏi:

- Sáng sớm hôm nay khi thỉnh chuông ông dụng tâm như thế nào?

Ông Sa di ngạc nhiên, thưa rằng:

- Bạch Hòa Thượng, con không có dụng tâm gì, chỉ thỉnh chuông là thỉnh chuông thôi.

Ngài mới bảo:

- Ông không nhận được hay sao? Trong tâm của ông, nhất định có chuyên niệm đến một cái gì đó. Bởi vì hôm nay ta nghe âm thanh tiếng chuông rất là trong sáng cao quý. Âm thanh đó phải là của chính một người có tâm chân chánh, thành kính mới thỉnh được tiếng chuông phát ra như vậy.

Ông Sa di ngẫm nghĩ một lúc rồi thưa:

- Bạch Thầy, thật ra con cũng không có ý niệm gì khác đặc biệt. Chỉ là khi con chưa đi tham học, lúc đó còn ở nơi chùa quê, Thầy Bổn Sư của con có dạy: “Khi thỉnh chuông thì phải nhớ 'Kính chuông như Phật,' phải một lòng thành kính, trai giới thanh tịnh, dùng tâm thiền như lúc nhập định và dùng tâm lễ bái mà thỉnh chuông.”

Nghe như vậy, Thiền sư Dịch Thượng gật đầu và khuyên thêm:

- Sau này khi làm việc gì ông cũng nên nhớ giữ tâm thiền như đã thỉnh chuông sáng hôm nay.

Từ đó về sau mỗi khi làm việc gì ông Sa di cũng luôn luôn kính cẩn, trân trọng, dần dần thành một thói quen, sau thành một thiền sư nổi tiếng, là Thiền sư Sâm Điền Ngộ Do sau này.

Sức sống thiền là như vậy, thỉnh chuông cũng phải kính chuông như Phật. Còn bây giờ trong chùa ít ai nói thỉnh chuông, mà nói là đánh chuông, dộng chuông. Toàn là đánh, dộng nên tiếng chuông cũng thường không được trong sáng. Còn đây là kính cẩn trân trọng, làm với một tâm chí thành, nên người có kinh nghiệm tâm linh khi nghe người thỉnh chuông, hoặc đánh chuông trên chùa thì biết tâm của người đó như thế nào. Tâm đó đang thuần thục hay còn thô tháo.

Cho nên mỗi việc làm, mỗi cử chỉ, mỗi hành động, mình sống trở về với ánh sáng tỉnh giác của mình thì trong việc làm, trong hành động đó, mới là thực sống và có ý nghĩa, còn không thì sống như chết.

Vì vậy thiền dạy mình sống phải thật sự tỉnh giác, sống trở về ngay cuộc sống thực của mình. Các Ngài thường nhắc nhở chúng ta sống giây phút nào phải xứng đáng giây phút đó.

Thứ Tư, 10 tháng 11, 2010

Bạn đọc chia sẻ

(Theo sách “KHI CHẾT KHÔNG MANG THEO ÐƯỢC GÌ,” tác giả Đoàn Văn Thông)

(Tiếp theo kỳ trước)

NGHIỆP LÀ HẬU QUẢ CỦA KIẾP TRƯỚC?

Tái sinh vào kiếp sau tức là sau khi chết sẽ lại hóa sanh trở lại qua một kiếp đời khác. Như vậy khi một người nào đó chết đi thì thật sự người đó không chết, vì chỉ cái thân xác tan rã mà thôi, còn cái tinh anh vi diệu của người ấy (con ngươi, thường gọi là Hồn hay Linh hồn) lại chuyển qua một đời sống mới, qua một thân xác mới.

Sự luân chuyển từ kiếp nầy qua kiếp khác gọi là sự luân hồi. Mỗi giai đoạn sống trong sự chuyển hóa luân hồi ấy gọi là mỗi kiếp. Mỗi kiếp người đều phải chịu hậu quả của những hành động gây ra từ kiếp trước - tạo ra các nguyên nhân hay có thể gọi là cái nghiệp. Đó là luật Karma hay còn gọi là luật Quả Báo hoặc Nghiệp báo.

MANG THEO “CÁI NGHIỆP” CỦA HỌ ÐỂ TẠO QUẢ CHO KIẾP SAU...

Để hiểu rõ giai đoạn này, ta hãy bắt đầu với khi một người chết đi, họ trở thành bất động. Sở dĩ xác thân khi chết bất động vì thật ra nó chỉ là một khối vật chất bình thường trong tự nhiên mà thôi.

Nó như cái áo mặc, khi chết chính là lúc trút bỏ cái áo ấy. Khi sống, xác thân cử động được là nhờ có sự hỗ trợ hợp đồng của các giác quan như thấy, nghe, nhận biết, ngửi, nếm, suy nghĩ tính toán... Khi chết, thân xác bất động thì các giác quan ấy cũng mất luôn.

Tuy nhiên có 2 thể vật chất đặc biệt không bị mất đi, vẫn còn tồn tại. Hai thể này có tên gọi là Mạt Na Thức và A Lại Da Thức, mà kinh Phật giáo gọi là hai thức. Hai thức này sẽ là cầu nối giữa cái xác thân đã chết vớì các xác thân sanh trở lại của kiếp kế tiếp.

Mạt Na Thức có nhiệm vụ sao chép lại bao quát về cá tánh, bản năng, năng khiếu, cảm xúc, sự hiểu biết và ký ức, hành vi cử chỉ, lẫn tư tưởng của con người mà nó liên hệ lúc còn sống. Tất cả những ghi nhận, sao chép này từ Mạt Na Thức sẽ truyền hết cho A Lại Da thức lưu trữ.

Như vậy có thể hiểu A Lại Da Thức như là một cái thư viện lưu trữ các tài liệu sách vở của một người lúc còn sống. Tài liệu ấy bao gồm các đặc tính, bản năng, thói hư tật xấu và cả tánh tốt của người đó. Tuy nhiên tùy theo sự dồn nén tập trung tư tưởng, tình cảm nào đó quá nhiều như uất hận, căm thù, đau khổ, sợ hãi, nuối tiếc... thì những tư tưởng tình cảm ấy sẽ là đầu mối cho đời sống kế tiếp mang nặng tất cả những gì đã bị kích động dồn nén ấy.

Do đó mà các vị chân tu thấy rõ điều đó đã căn dặn mọi người rằng; lúc sắp qua đời phải cố giữ tâm yên bình không nên nuối tiếc, đau buồn hay căm giận. Đặc biệt sự căm thù, lòng tức giận là mối nguy ghê sợ nhất nếu phát sinh lúc lâm chung thì lúc tái sanh sẽ rơi vào vòng đau khổ cùng cực. Ðó cũng là lý do tại sao lúc người vừa mới chết, mọi người có mặt nên đọc kinh cầu nguyện, nhắc nhở tâm linh người chết nên sáng suốt, vui vẻ hầu tránh sự mê mờ u tối, lầm lạc khiến dễ sa vào chốn địa ngục.

Chủ Nhật, 7 tháng 11, 2010

(Theo sách “KHI CHẾT KHÔNG MANG THEO ÐƯỢC GÌ,” tác giả Đoàn Văn Thông)

(Tiếp theo kỳ trước)

Vậy khi đang còn sống nên cõi đời nay thì ta nên làm gì?


Chúng ta có rất nhiều cách làm, nhiều cách hành động và suy nghĩ tốt lành nhưng vì quá bận rộn với cuộc sống đầy bon chen, đầy tham lam, đố kỵ mà ta không thực hiện được. Trước hết là cố gắng bỏ bớt dần “cái ta” của mình đi. Vì cái ta mà mình khổ, mà mình tự ái, lo toan, ích kỷ, tự phụ, sân si, sầu hận. Cái ta càng giảm thì tình thương bao la dễ nẩy nở.

Tình thương đây không phải là tình thương đầy vị kỷ mà rộng rãi hơn, vị tha hơn. Đó là tình thương đồng loại thương người. Vì mỗi con người “đều là những kẻ đáng thương” - mà có khi còn đáng thương hơn mình nữa.

Kinh Unanda có ghi câu: “Ví dầu ai có đi khắp bốn phương trời cũng không thấy ai là kẻ đáng thương hơn mình. Ấy vậy là mình thương mình. Mình đã thương mình thì cũng đừng nên làm phiền người.”

Ta không những không làm phiền người mà còn phải thương người nữa. Nhờ “tình thương” mà thân tâm con người được an lạc. Khi ta mang tình thương đến cho người khác thì chính là tự mình mang “hạnh phúc” đến cho chính mình.

Có thể lúc đầu vì “cái ta” quá lớn nên ta không thể thực hiện và cảm nhận được điều đó vì khi cho, khi mang tình thương hỗ trợ người khác ta thường hay nghĩ lại, hay tiếc rẻ, ân hận nên không cảm thấy được sự hạnh phúc vui sướng đến với mình.

CÓ PHẢI KHI CHẾT, KHÔNG MANG THEO ÐƯỢC GÌ HAY KHÔNG?

Trở lại vấn đề khi chết không mang theo được gì, nhiều người đã nhận thức rõ điều ấy, và đó là một sự thật hiển nhiên mà từ cổ đại tới nay, mọi người trên quả đất đều thấy và biết.

Tuy nhiên, đối với Phật giáo thì khi chết mỗi người đều có mang theo “cái” mà không ai thấy hay biết, “cái” mang theo đó là “cái nghiệp” của chính họ. Cho đến nay, sự kiện gọi là nghiệp quả hay nghiệp báo vẫn còn gây nhiều thắc mắc khó hiểu mặc dù số lượng người tin vào nghiệp (karma) và nhất là tin vào vấn đề có sự tái sinh ở kiếp sau ngày càng gia tăng thấy rõ tại các nước Âu Mỹ.

(Còn tiếp)

Thứ Bảy, 6 tháng 11, 2010


Một bạn đọc đã thân ái chuyển bài sau đây từ một bạn đạo bên Pháp.

Xin chân thành cám ơn các bạn thương yêu đóng góp bài vở cho nhà Việt Nam Ăn Chay, và xin hân hạnh chia sẻ để chúng ta cùng học hỏi.

(Theo sách “KHI CHẾT KHÔNG MANG THEO ÐƯỢC GÌ,” tác giả Đoàn Văn Thông)

Khi Chết Chúng Ta Đem Theo Được Gì (?)

“Tất cả lúa, đậu, tài sản, vàng bạc châu báu, tiền của, mọi vật sở hữu đều để lại hết khi người chủ của các thứ ấy chết đi. Người đó không mang theo được bất cứ thứ gì, dù lúc còn sống người ấy ôm giữ từng giờ từng phút.... Chỉ có cái đi theo người ấy lúc chết, đó là Thân, Khẩu, Ý và những gì người ấy đã làm lúc sống. Tất cả những thứ ấy đi theo để tạo nghiệp báo cho đời sau mà thôi. Biết được vậy thì khi sống ta phải tạo việc lành, phải biết bố thí giúp người...” (Tương Ưng Bộ Kinh)

Bà Dianne Perry, sinh trưởng tại Anh quốc (người mà sau này trở thành nữ tu Phật giáo nổi tiếng thế giới, người đã trải qua 12 năm tu khổ hạnh nơi rặng tuyết sơn của Himalaya) lúc mới 12 tuổi đã có lần thấy một người vô gia cư chết bên gầm cầu. Cảnh sát lục lọi cái xác rách nát của người chết ấy chỉ thấy một cái bát, một cái muỗng và vài đồng xu.

Hôm đó trở về nhà, tuy nhỏ tuổi mà cô bé Diane Perry đã hỏi mẹ một câu đầy vẻ triết lý: “Mẹ ơi! Tại sao người ta chết đi không đem theo được gì cả? Hôm qua con thấy một người chết bên gầm cầu, người ấy rất nghèo, chỉ có cái bát, cái muỗng và mấy đồng xu. Chỉ chừng ấy thôi mà khi chết người ấy vẫn để lại không mang theo sao?”

Bà mẹ của Diane ngạc nhiên vì câu hỏi lạ lùng ấy và đã trả lời con: “Không con à! Khi chết không ai đem theo được bất cứ cái gì. Dù vua chúa, người giàu sang hay kẻ nghèo hèn... Một khi đã chết thì không đem theo của cải vật chất nào cả.”

Qua câu chuyện trên ta thấy rõ ràng trong thực tế có vô số người giàu có sống trên của cải nhưng khi họ chết đi, hai tay buông xuôi, thì họ trở thành tay trắng vì không mang theo được dù một chút của cải vật chất nào. Sự kiện thực tế ấy từ lúc con người xuất hiện trên quả đất cho đến nay đều thấy rõ, không ai chối cãi. Ấy vậy mà từ xưa tới nay có biết bao người quyết chí làm giàu, lúc nào cũng mong tiền bạc đến với mình không dứt. Họ sống vì tiền, vui thú vì lo thu nhặt tiền bạc vào cho đầy túi, nhưng không bao giờ chấm dứt được cái ham muốn ấy vì lòng tham quá mức. Đến khi xuôi tay thì tất cả tiền bạc của cải ấy đều để lại thế gian, còn họ thì nằm dưới lòng đất lạnh.

Có biết bao nhà triệu phú, tỷ phú sống trên của cải, có người hằng chục tỷ Mỹ kim, khi chết không mang theo được một cent nhỏ. Ngay khi đang làm giàu họ luôn luôn phải phấn đấu tranh giành, mưu lược để chống chọi lại với những gì bất lợi đến với mình. Do đó tâm hồn những người giàu có thường bất an hồi hộp, lo lắng mệt trí vì tính toán... Không những thế họ thường keo kiệt không dám giúp đỡ ai vì sợ số tiền có được của mình hao hụt đi. Có người, ngay chính bản thân họ cũng không dám ăn tiêu, huống hồ là nói đến chuyện giúp đỡ kẻ khác. Ngày nay cũng có nhiều đại phú gia, nhiều người giàu có, tất cả đều bị như thế nhưng không ai chịu tìm hiểu xem mình PHẢI LÀM GÌ LÚC ÐANG CÒN SỐNG TRÊN ÐỜI?

Vậy khi đang còn sống trên cõi đời này thì ta nên làm gì?

(Còn tiếp)

Thứ Ba, 5 tháng 10, 2010

Thầy Học Cũ Của Cha Tôi
Trích “Tâm Hồn Cao Thượng” (bản dịch: Hà Mai Anh)
Nguyên tác “Cuore” (Trái  Tim) của nhà văn Ý Edmond de Amicis (1846 – 1908)

“Tâm Hồn Cao Thượng” đã từng là cuốn sách gần như kim chỉ nam của nhiều thế hệ bạn đọc Việt Nam. Thời gian trôi đi, nhưng những gì tác giả gửi gắm qua từng bài học của thuở đầu đời về công ơn cha mẹ; về lòng yêu nước, thương người; về tình thầy trò, bè bạn, v.v... vẫn không bao giờ cũ, không bao giờ thừa! Những trang sách - những bài học này - không chỉ hữu ích cho những công dân tốt tương lai mà còn hết sức quí báu đối với đông đảo bạn đọc các giới, các ngành.

Hôm kia, cơm trưa xong, cha tôi đang xem nhật báo bỗng kêu lên một tiếng ngạc nhiên rồi bảo chúng tôi:
- Ta cứ tưởng cụ mất đã hơn 20 năm nay rồi. Cụ Crôxetti là cụ giáo khai tâm cho ta ngày xưa hiện còn sống và đúng 80 tuổi. Ta vừa xem báo thấy tin cụ được thưởng "danh dự bội tinh" vì cụ đã tận tâm với chức vụ trên 60 năm. Cụ mới về hưu được 2 năm nay. Cụ ở thành Cônđôvê cách đây độ một giờ xe lửa, tức là quê bác làm vườn nhà ta ngày xưa ấy.
Cha tôi nói tiếp:
- Enricô ơi! Mai ta sẽ đi thăm cụ.
Rồi cả buổi chiều hôm ấy, cha tôi chỉ nói đến chuyện cụ giáo Crôxetti. Cái tên của thầy học "vỡ lòng" đã làm sống lại trong ký ức của cha tôi biết bao nhiêu là kỷ niệm về thuở thiếu thời, kỷ niệm của các bạn cũ và nhất là kỷ niệm của bà cụ thân sinh ra cha tôi.
Cha tôi kể lại rằng:
- Hình ảnh cụ giáo đáng tôn kính ấy vẫn còn in trong óc ta. Khi ta học cụ độ 40 tuổi. Cụ người nhỏ nhắn, lưng hơi gù, mắt sáng, không râu, tính hồn hậu và thương yêu học trò như con. Sinh trưởng ở một nhà nông. Cụ đã chịu bao nhiêu nỗi thiếu thốn và đã tốn bao nhiêu công phu mới thành được một vị giáo viên. Cha mẹ ta rất yêu mến cụ và đãi cụ như một người bạn thân trong nhà. Không hiểu sao quê ở Tôrinô cụ lại về nghỉ ở Cônđôvê? Gặp ta, chắc chắn cụ quên rồi, nhưng không ngại, ta còn nhớ và nhận được cụ 40 năm! 40 năm qua rồi! Chóng thật!... Mai ta sẽ đi thăm cụ.
 

Hôm sau, độ 9 giờ, chúng tôi đã ra ga Xuxa. Cảnh xuân như vẽ. Chúng tôi qua những cánh đồng xanh, tốt và những bờ giậu đương hoa, mùi thơm ngào ngạt. Cha tôi có vẻ khoan khái, vừa ngắm cảnh, vừa nói với tôi:
- Ngoài cha ta thì cụ giáo Crôxetti là người yêu ta hơn hết và đã làm ơn cho ta nhiều nhất. Ta không bao giờ quên được những lời cụ khuyên và cả đến những câu cụ quở, mặc dầu những câu ấy có khi làm cho ta trở về phải phát khóc. Ta hãy còn nhìn rõ những lúc cụ vào lớp, cụ tựa gậy một góc, treo áo lên mắc rồi ngồi vào bàn: hôm nào cũng như hôm nào chẳng sai. Cụ là người điềm đạm, cẩn thận, chịu khó và hết lòng... buổi nào cụ cũng dạy đầy đủ và cẩn thận như buổi ban đầu.
Ta còn nhớ những lúc cụ gọi ta:
- Bôttin! Ngón tay trỏ quập vào quản bút kia mà!
Xuống ga Cônđôvê, chúng tôi tìm nhà bác làm vườn cũ nhưng chỉ có người vợ ở nhà. Chị ta có cái cửa hàng nhỏ trong ngõ. Lúc chúng tôi đến thì chị đang bận trông con. Gặp chủ cũ, chị mừng rỡ quá kể chuyện rằng chồng chị sang thành Giênôva làm thợ đã ba năm nay cũng sắp về và đứa con gái đầu lòng bị bệnh câm điếc đang cho học tại trường Câm điếc ở Tôrinô. Sau cùng chị chỉ giúp nhà cụ giáo Crôxetti mà ở làng này không một ai không biết.
Chúng tôi theo một con đường gồ ghề, hai bên giậu hoa đương nở, để đến nhà cụ.
Cha tôi không nói chuyện nữa vì mãi ngẫm nghĩ những truyện ngày xưa; thỉnh thoảng tôi lại thấy cha tôi mỉm cười hoặc lắc đầu thở dài.
Thình lình, cha tôi đứng dừng lại nói:
- Kia rồi! Đích thị là cụ rồi! May quá!
Quả nhiên ở đằng xa, một cụ già lưng còng, râu bạc, đầu đội mũ nỉ, tay chống gậy trúc, đang thủng thỉnh đi về phía chúng tôi.
Cha tôi bước rảo và nhắc lại:
- Chính cụ!
Khi chúng tôi đến gần cụ thì đứng dừng lại. Cụ cũng không bước nữa và ngẩng nhìn cha tôi. Cha tôi cất mũ hỏi:
- Xin cụ tha lỗi, có phải cụ là cụ giáo Crôxetti không?
Cụ già đáp:
- Sao ngài lại biết tôi? Vâng, chính tôi là Crôxetti.
Cha tôi cầm tay cụ và nói:
- Vậy xin cụ cho phép học trò cũ bắt tay cụ. Tôi ở Tôrinô về thăm cụ.
- Tôi hân hạnh quá! Vậy ông học tôi vào hồi nào? Xin lỗi ông, ông cho tôi biết tên.
Cha tôi xưng danh và nói đã học cụ năm ấy năm nọ. Cụ cúi đầu nghĩ và nhắc đi nhắc lại tên cha tôi đến 3, 4 lần. Bỗng cụ sực nhớ ra, ngẩng lên hỏi:
- Anbertô Bottini có phải là con cụ kỹ sư Bôttini ở phố La Côxôlata không?
Cha tôi giơ hai tay ra, nói:
- Thưa cụ, phải đấy!
- Quí hóa quá!
Cụ vừa nói vừa ôm lấy cha tôi. Xong cụ nói tiếp:
- Mời ông về nhà tôi chơi.
Chúng tôi theo cụ về nhà. Một lát sau, chúng tôi đến một cái vườn rộng, trong có ngôi nhà hai gian. Cụ mở cửa gian đầu mời chúng tôi vào một cái buồng chung quanh quét vôi trắng. Góc phòng kê một cái sập trên có cái mền bọc vải kẻ xanh và trắng, bên cạnh là cái bàn giấy có ngăn chứa sách, giữa kê cái bàn con và 4 cái ghế tựa, trên tường treo một tấm bản đồ cũ : đó là tất cả đồ đạc trong phòng.
Chúng tôi ngồi. Cha tôi và cụ giáo nhìn nhau một lúc, không nói gì.
Trong phòng, nền lát gách vuông, mặt trời rọi vào như một cái bàn cờ lớn. Cụ đăm đăm nhìn xuống nghĩ ngợi rồi hình như sực nhớ ra, cụ nói to:
- Anbertô! Thôi! Tôi nhớ ra rồi! Bà cụ thân sinh ra ông là người tử tế lắm. Năm đầu ông ngồi bàn nhất bên trái, cạnh cửa sổ.
Cụ nghĩ một lúc như để lục lại những ký ức năm xưa, xong cụ lại nói:
- Ngày xưa ông là một cậu bé lanh lợi lắm! Năm thứ nhì, ông bị chứng yết hầu suýt nguy, sau được lành mạnh, bà cụ lại đưa ông ra trường, người trông hãy còn còm gầy và đầu trùm một cái khăn vuông to tướng. Từ bấy đến nay, đã 40 năm rồi, phải không? ... Nay ông lại có lòng tốt đến thăm thầy cũ thực là quí hóa! Mấy năm trước cũng có nhiều học trò cũ đến thăm tôi, kẻ là Linh mục, người làm Đại tá và nhiều người nữa đều có địa vị khá cả.
Cụ giáo nhân hỏi cha tôi nay làm nghề nghiệp gì, cha tôi đáp xong, cụ vui vẻ nói to:
- Một chức nghiệp tự do (Theo bài "Chú hề con" ông Anbertô là ký giả) có ích cho quốc dân! Tôi rất vui lòng.
Xong cụ bùi ngùi nói:
- Đã đến gần một năm nay, tôi không được tiếp ai cả. Có lẽ ông là người khách cuối cùng của tôi, ông ạ.
Cha tôi vội nói:
- Cụ đừng nói thế. Trông cụ còn khoẻ mạnh nhiều.
Giáo sư giơ bàn tay cho cha tôi xem và nói:
- Ông không trông thấy tay tôi run à? Đó là một triệu chứng dỡ... Tôi bị chứng này đã ba năm, khi tôi còn đang dạy học. Trước tôi tưởng không can gì, sau bệnh ấy một ngày một tăng làm cho tay tôi không thể viết được nữa. Tôi phải xin nghỉ. Sau 60 năm vui trong cõi học, bỗng dưng phải từ biệt nhà trường từ biệt học trò và cả công việc, lòng tôi không khỏi đau đớn ngậm ngùi. Sau buổi học cuối cùng, tất cả học trò theo về nhà tôi và ăn mừng. Tuy nhiên tôi vẫn thấy buồn, vì tôi nghĩ thế là cái đời của tôi đã tàn. Năm ngoái bà giáo nhà tôi tạ thế, kế đến đứa con một cũng qua đời. Hiện giờ tôi chỉ còn hai đứa cháu gái thôi. Ruộng, vườn không có, tôi sống với một số lương hưu trí vài trăm lira, tần tiện cũng đủ. Ngồi không thấy ngày dài quá. Cái thú tiêu khiển độc nhất của tôi là cái thú xem sách cũ, đọc học báo và các pho sách truyện mà người ta biếu tôi. Đằng kia... (Cụ trỏ vào ngăn sách trên bàn) ...đằng kia đã xếp tất cả những kỷ niệm, những quá khứ của đời. Ngoài những tập ấy ra, tôi không còn có gì là của báu trên đời này nữa.
Nghỉ một lúc, bỗng cụ vui vẻ bảo cha tôi:
- Ông Anbertô ơi! Ông có muốn tôi đem lại cho ông một sự ngạc nhiên không?
Nói xong, cụ chạy lại bàn viết, mở ngăn kéo ra, trong có vô số những buộc giấy bên ngoài đánh ghi cẩn thận.
Cụ bới tìm một lúc lấy một buộc tháo ra trở vài tờ rồi rút một mảnh giấy cũ ra cho cha tôi. Đó là một "bài luận" của cha tôi làm đã bốn mươi năm nay.
Trên đầu, tôi thấy mấy giòng chữ này:
"Anbertô Thứ hai, ngày 3 tháng 4 năm 1838
Luận
...."
Nhận ngay ra nét chữ nguệch ngoạc hồi còn nhỏ, cha tôi cầm đọc và mỉm cười. Đang xem, cha tôi bỗng dân dấn nước mắt. Tôi hỏi tại sao thì cha tôi ôm chặt tôi vào lòng và bảo:
- Con ơi! Con hãy xem trang này. Con nhìn kỹ những chữ L và T mà chính tay bà nội con đã dạm lại cho ngay ngắn, dòng cuối cùng, hoàn toàn do tay bà viết vì thuở ấy bà tập viết giống chữ ta để mỗi khi ta mệt hay buồn ngủ không làm hết bài thì bà lại làm nốt cho ta. Mẹ ta thực đã thương ta vô cùng!
Nói xong, cha tôi kính cẩn nâng trang giấy lên miệng hôn.
Cụ giáo trỏ vào các buộc giấy còn lại nói:
- Đó là những cuốn sổ tay của tôi. Mỗi năm tôi lấy một bài của mỗi người học trò cất đi, xếp thứ tự và đánh số. Đôi khi trở ra xem lại : chỗ này một câu, chỗ kia một câu thì muôn điều lại hiển hiện ra trong óc tôi và tựa hồ như sống lại cuộc đời dĩ vãng.
Ông Anbertô ơi! Từ ngày tôi đi dạy đến giờ, kể biết bao nhiêu học trò! Nhắm mắt lại, tôi nhìn thấy một đám đầu xanh của trăm nghìn đứa trẻ, lớp nọ kế tiếp lớp kia. Trong số ấy, biết đâu lại không có kẻ thành ra người thiên cổ rồi! Tôi nhớ dai nhất là những học trò tốt nhất và những học trò xấu nhất, những người đã làm cho tôi vui lòng và những người đã làm cho tôi buồn bực. Nhưng tôi bây giờ cũng như người đã sang bên kia thế giới rồi, tôi yêu tất cả, ai cũng như ai.
Cha tôi mỉm cười hỏi cụ:
- Còn tôi, ngày xưa có nghịch lắm không? Thưa cụ!
- Về phần ông à! Không, ngày ấy tuy có nhỏ tuổi, nhưng ông đã tỏ ra một đứa trẻ đứng đắn và có nết. Tôi còn nhớ bà cụ nhà là người rất hiền hậu và yêu dấu ông vô cùng... Thế nào? Ông bỏ cả công việc để về thăm một nhà giáo thanh bần, tuổi tác?
- Thưa cụ nhắc đến mẹ tôi, tôi lại nhớ đến buổi học đầu tiên của tôi. Mẹ tôi dẫn tôi đến trường. Hôm ấy là lần thứ nhất mà mẹ tôi phải dời tôi trong hai tiếng đồng hộ và giao tôi trong tay người lạ. Đối với mẹ tôi, việc đi học coi như một việc ra đời, một bước đầu trong những kỳ ly biệt liên tiếp nhau sau này không thể tránh được và sẽ làm cho mẹ tôi thương nhớ. Xã hội sẽ lôi kéo con bà ra và không bao giờ giả lại nguyên vẹn. Vì thế, mẹ tôi rất cảm động, kêu xin với thày để thầy chăm chú cho. Ra về, mẹ tôi còn nhìn qua khe cửa, mỉm cười với tôi, hai mắt long lanh giọt lệ. Cụ ra hiệu cho mẹ tôi về và có ý bảo mẹ tôi cứ yên tâm. Cái nét mặt khoan từ ấy,cái cử chỉ hòa nhã ấy, cái cảm tình thân ái ấy đã ghi sâu vào trong cõi lòng, khiến tôi không bao giờ quên được. Ngày nay, chính vì mối kỷ niệm ấy mà tôi phải dời Tôrinô lại đây để thưa với cụ, sau một kỳ xa cách hơn 40 năm trời, rằng :"Cảm ơn thầy đã dạy dỗ con!"
Cụ không nói gì chỉ lấy bàn tay run vuốt ve đầu tôi và trán tôi.
Trong khi ấy, cha tôi đưa mắt nhìn bốn bức tường trơn, chiếc giường gỗ tạp, một miếng bánh tây để cạnh chai dầu ở bệ cửa sổ, rồi có vẻ nghĩ ngợi.
- Sau 60 năm tận tuỵ với nghề, phải chăng đó là tất cả những phần thưởng của thầy?
Gặp người cũ, xem chừng cụ hài lòng lắm. Cụ nói chuyện về gia đình chúng tôi, về các cụ giáo đồng thời và những bạn học của cha tôi.
Cha tôi ngắt chuyện và ân cần mời cụ ra thành phố Cônđôvê xơi cơm hiệu với chúng tôi:
Cụ đáp:
- Cảm ơn ông, tôi không đi được.
Cha tôi liền cầm lấy hai tay cụ mời tha thiết. Cụ nói:
- Tay tôi run thế này, ăn làm sao được. Như thế sẽ là cái tội cho tôi và cho cả mọi người nữa.
Cha tôi nói:
- Thưa thầy, lúc ăn, con sẽ hầu thầy, không ngại.
Cụ bất đắc dĩ phải nhận lời, vừa đóng cửa vừa nói:
- Ông Anbertô ơi! Hôm nay thực là một ngày vui vẻ cho tôi! Tôi quả quyết với ông rằng tôi sẽ ghi nhớ mãi cho đến khi tôi không còn sống nữa.
Cha tôi dắt cụ giáo theo đường cũ trở ra.
Đến hàng cơm thì vừa đúng 12 giờ. Chúng tôi vào bàn.
Cụ giáo ngồi giữa cha tôi và tôi. Tiệc ăn bắt đầu. Cụ giáo tay đã run lại bị xúc động nên không thể lấy được đồ ăn. Cha tôi cắt thức ăn, cắt bánh, và lấy muối bỏ vào đĩa cho cụ. Uống, cụ phải dùng cả hai tay cầm cốc mà vẫn còn run, làm đổ xuống áo gi lê. Cha tôi đứng dậy cầm khăn chực lau, cụ gạt ra, bảo:
- Không được. Tôi kiêng...
Rồi cụ cười và đọc một câu dài bằng tiếng La Tinh.
Cuối bữa, cụ nâng cốc, trịnh trọng nói:
- Ông Anbertô thân quí của tôi ơi! Tôi uống cốc này để chúc cho ông cho các cháu được mạnh giỏi và để tưởng niệm cụ nhà!
Cha tôi liền bắt tay cụ và nói:
- Thưa thầy, cảm ơn thầy, con cũng xin chúc thầy được trường thọ.
Ở cuối phòng, chủ tiệm và người nhà xúm xít đứng nhìn, hình như họ lấy làm sung sướng thấy vị giáo sư thân yêu của họ được ưu đãi.
Hai giờ, chúng ta ra ga. Cụ giáo tỏ ý muốn tiễn chân. Cha tôi lại khoác tay cụ, còn tôi thì dắt tay cụ và vác gậy cho cụ. Những khách qua đường đều đứng lại trông vì ở đây ai cũng biết cụ và kính cụ như cha.
Qua một ngõ kia, nghe có tiếng trẻ con đánh vần và đọc sách.
Cụ đứng lại, nét mặt rầu rầu, bảo cha tôi:
- Ông Anbertô ơi! Tôi buồn quá! Nghe tiếng trẻ học, tôi lại nhớ đến trường cũ, nơi 60 năm ròng, tôi đã quen bén thứ âm nhạc bằng tiếng trẻ thơ ấy... Than ôi! Bây giờ tôi không có gia đình, tôi không có học trò nữa!
Cha tôi đáp:
- Thưa thầy, xin lỗi thầy, có lẽ thầy lầm rồi! Thầy còn có biết bao nhiêu là học trò hiện ở rãi rác trong cõi đời này! Chúng vẫn nhớ tới thầy cũng như con không bao giờ quên được thầy.
Cụ già buồn rầu nói :
- Không, không. Tôi không có trường học nữa. Tôi không có học trò nữa. Mà không có học trò thì tôi không có cái thú sống ở đời!
- Thầy đừng nói thế. Giáo trạch của thầy đã đầm thấm khắp nơi. Thầy đã hy sinh đời thầy một cách rất cao thượng.
Cụ giáo không nói gì, gục đầu vào vai cha tôi. Khi chúng tôi đến ga thì xe lửa sắp chạy. Cha tôi vội vàng hôn cụ và nói:
- Thôi! Chào thầy ở lại, con về.
Cụ nắm tay cha tôi ép vào ngực cụ, dân dấn nước mắt nói:
- Thầy chào con và cảm ơn con.
Trước khi lên xe, cha tôi đỡ lấy cái gậy trúc của cụ đưa cái gậy cán bạc có khắc tên tắt của cha tôi cho cụ và nói:
- Xin thầy giữ lấy cái gậy này gọi là chút kỷ niệm của người học trò cũ.
Cụ không chịu nhận, nhưng cha tôi đã nhảy lên xe và quay ra nói:
- Kính thầy ở lại.
Cụ đáp:
- Con ơi đi đường thận trọng nhé! Ta cầu trời phù hộ cho con đã có lòng quí hóa đối với thầy cũ.
Cha tôi cảm động chào cụ lần nữa.
- Thôi! Lạy thầy! Con mong lại có ngày được gặp thầy!
Xe chuyển bánh, chúng tôi trông thấy cụ lắc đầu như có ý bảo:
- Thầy trò ta có lẽ không bao giờ gặp nhau nữa!
Cha tôi thấy vậy liền nói thêm:
- Xin thầy đừng ngại, thầy trò ta còn nhiều dịp gặp nhau.
Xe chạy, cụ giơ bàn tay run lên để chào và để trả lời. 


 

Thứ Tư, 14 tháng 7, 2010

 Đại văn hào, bá tước Leo Tolstoy (1828–1910)
là người trường chay

"Ba Câu Hỏi" là một truyện ngắn của đại văn hào Nga Leo Tolstoy, xuất bản lần đầu tiên vào năm 1885. Số lượng sáng tác của nhà văn Leo Tolstoy phong phú, bao gồm những tác phẩm nổi tiếng khắp thế giới như các quyển tiểu thuyết "Chiến Tranh và Hòa Bình" (1869), "Anna Karenina" (1877). Ngoài ra ông cũng viết dưới các thể loại khác, như truyện ngắn "Tình Thương Nơi Nào, Thượng Đế Nơi Đó" (1885), kịch "Quả Khai Ngộ" (1891), tác phẩm triết lý "Thiên Quốc Bên Trong Bạn" (1894).

Thuộc dòng dõi quý tộc lâu đời, đại văn hào, bá tước Leo Tolstoy là một người trường chay, không uống rượu, không hút thuốc, không thích săn bắn. Ông là một người hiền lành, dễ tính, và là một thiên tài khiêm tốn trong nhân loại.

Ba Câu Hỏi

Nhà vua ấy, Tolstoy không biết tên. Một hôm đức vua nghĩ rằng, giá mà vua trả lời được ba câu hỏi ấy thì vua sẽ không bao giờ bị thất bại trong bất cứ công việc nào.
 

Ba câu hỏi ấy là:
    1. Làm sao để biết được thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc?
    2. Làm sao để biết được nhân vật nào là nhân vật quan trọng nhất mà ta phải chú trọng?
    3. Làm sao để biết được công việc nào là công việc cần thiết nhất mà ta phải thực hiện?
    

Nghĩ thế, vua liền ban chiếu ra khắp trong bàn dân thiên hạ, hứa rằng sẽ ban thưởng trọng hậu cho kẻ nào trả lời được những câu hỏi đó.
    

Các bậc hiền nhân đọc chiếu liền tìm tới kinh đô. Nhưng mỗi người lại dâng lên vua một câu trả lời khác nhau.
    

Về câu hỏi thứ nhất, có người trả lời rằng muốn biết thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc thì phải làm thời biểu cho đàng hoàng, có ngày giờ năm tháng và phải thi hành cho thật đúng thời biểu ấy. Như vậy mới mong công việc làm đúng lúc. Kẻ khác thì lại nói không thể nào dự tính được trước những việc gì phải làm và thời gian để làm những việc ấy; rằng ta không nên ham vui mà nên chú ý đến mọi sự khi chúng xảy tới để có thể làm bất cứ gì xét ra cần thiết.
    

Có kẻ lại nói rằng, dù vua có chú ý đến tình hình mấy đi nữa thì một mình vua cũng không đủ sáng suốt để định đoạt thời gian của mọi việc làm một cách sáng suốt, do đó nhà vua phải thành lập một Hội Đồng Nhân Sĩ và hành động theo lời khuyến cáo của họ.
    

Lại có kẻ nói rằng, có những công việc cần phải lấy quyết định tức khắc không thể nào có thì giờ để tham khảo xem đã đến lúc phải làm hay chưa đến lúc phải làm. Mà muốn lấy quyết định cho đúng thì phải biết trước những gì sẽ xẩy ra, do đó, nhà vua cần phải cần đến những nhà cố vấn tiên tri và bốc phệ. 

Về câu hỏi thứ hai, cũng có nhiều câu trả lời không giống nhau. Có người nói những nhân vật mà vua cần chú ý nhất là những ông đại thần và những người trong triều đình. Có người nói là các giám mục, thượng tọa là quan hệ hơn hết. Có người nói là mấy ông tướng lãnh trong quân đội là quan hệ hơn hết.
    

Về câu hỏi thứ ba, các nhà thức giả cũng trả lời khác nhau. Có người nói khoa học là quan trọng nhất. Có người nói tôn giáo là quan trọng nhất. Có người lại nói chỉnh trang quân đội là quan trọng nhất.
    

Vì các câu trả lời khác nhau cho nên nhà vua không thể đồng ý với vị hiền nhân nào cả, và chẳng ban thưởng cho ai hết.
    

Sau nhiều đêm suy nghĩ vua quyết định đi chất vấn một ông đạo tu trên núi, ông đạo này nổi tiếng là có giác ngộ. Vua muốn tìm lên trên núi để gặp ông đạo và hỏi ba câu hỏi kia.
    

Vị đạo sĩ này chưa bao giờ chịu xuống núi và nơi ông ta ở chỉ có những người dân nghèo; chẳng bao giờ ông chịu tiếp người quyền quý. Vì vậy mà nhà vua cải trang làm thường dân. Khi đi đến chân núi, vua dặn vệ sĩ đứng chờ ở dưới, và một mình vua, trong y phục một thường dân, trèo lên am của ông đạo.
 

Nhà vua gặp ông đạo đang cuốc đất trước am. Khi trông thấy người lạ, ông đạo gật đầu chào rồi tiếp tục cuốc đất. Ông đạo cuốc đất một cách nặng nhọc bởi ông đã già yếu; mỗi khi cuốc lên được một tảng đất hoặc lật ngược được tảng đất ra thì ông lại thở hào hển.
 

Nhà vua tới gần ông đạo và nói: "Tôi tới đây để xin ông đạo trả lời giúp cho tôi ba câu hỏi. Làm thế nào để biết đúng thì giờ hành động, đừng để cho cơ hội qua rồi sau phải hối tiếc? Ai là những người quan trọng nhất mà ta phải chú ý tới nhiều hơn cả? Và công việc nào quan trọng nhất cần thực hiện trước tiên?"
 

Ông đạo lắng nghe nhà vua nhưng không trả lời. Ông chỉ vỗ vai nhà vua và cúi xuống tiếp tục cuốc đất.
 

Nhà vua nói: "Ông đạo mệt lắm rồi, thôi đưa cuốc cho tôi, tôi cuốc một lát". 

Vị đạo sĩ cám ơn và trao cuốc cho vua rồi ngồi xuống đất nghỉ mệt. Cuốc xong được hai vồng đất thì nhà vua ngừng tay và lặp lại câu hỏi. Ông đạo vẫn không trả lời, chỉ đứng dậy và đưa tay ra đòi cuốc, miệng nói: "Bây giờ bác phải nghỉ, đến phiên tôi cuốc". Nhưng nhà vua thay vì trao cuốc lại cúi xuống tiếp tục cuốc đất. 

Một giờ rồi hai giờ đồng hồ đi qua. Rồi mặt trời bắt đầu khuất sau đỉnh núi. Nhà vua ngừng tay, buông cuốc, và nói với ông đạo: 

"Tôi tới để xin ông đạo trả lời cho mấy câu hỏi. Nếu ông đạo không thể trả lời cho tôi câu nào hết thì xin cho biết để tôi còn về nhà". 

Ông đạo nghe tiếng chân người chạy đâu đây bèn nói với nhà vua: "Bác thử xem có ai chạy lên kìa". Nhà vua ngó ra thì thấy một người có râu dài đang chạy lúp xúp sau mấy bụi cây, hai tay ôm bụng. Máu chảy ướt đầm cả hai tay. Ông ta cố chạy tới chỗ nhà vua và ngất xỉu giữa đất, nằm im bất động miệng rên ri rỉ.
 

Vua và ông đạo cởi áo người đó ra thì thấy có một vết đâm sâu nơi bụng. Vua rửa chỗ bị thương thật sạch và xé áo của mình ra băng bó vết thương, nhưng máu thấm ướt cả áo. Vua giặt áo và đem băng lại vết thương. Cứ như thế cho đến khi máu ngừng chảy.
 

Lúc bấy giờ người bị thương mới tỉnh dậy và đòi uống nước. Vua chạy đi múc nước suối cho ông ta uống. Khi đó mặt trời đã bắt đầu khuất và bắt đầu lạnh. Nhờ sự tiếp tay của ông đạo, nhà vua khiêng người bị nạn vào trong am và đặt nằm trên giường ông đạo. Ông ta nhắm mắt nằm yên. Nhà vua cũng mệt quá vì leo núi và cuốc đất cho nên ngồi dựa vào cánh cửa và ngủ thiếp đi. Vua ngủ ngon cho đến nỗi khi vua thức dậy thì trời đã sáng và phải một lúc sau vua mới nhớ ra được mình đang ở đâu và đang làm gì. Vua nhìn về phía giường thì thấy người bị thương cũng đang nhìn mình chòng chọc, hai mắt sáng trưng.
 

Người đó thấy vua tỉnh giấc rồi và đang nhìn mình thì nói, giọng rất yếu ớt: "Xin bệ hạ tha tội cho thần". 

"Ông có làm gì nên tội đâu mà phải tha?"
    

"Bệ hạ không biết hạ thần, nhưng hạ thần biết bệ hạ. Hạ thần là người thù của bệ hạ. Hạ thần đã thề sẽ giết bệ hạ cho bằng được bởi vì khi xưa, trong chinh chiến bệ hạ đã giết mất người anh của hạ thần và còn tịch thu gia sản của hạ thần nữa. Hạ thần biết rằng bệ hạ sẽ lên núi này một mình để gặp ông đạo sĩ, nên đã mai phục quyết tâm giết bệ hạ trên con đường về. Nhưng cho đến tối mà bệ hạ vẫn chưa trở xuống, nên hạ thần đã rời chỗ mai phục mà đi lên núi tìm bệ hạ để hành thích. Thay vì gặp bệ hạ, hạ thần lại gặp bốn vệ sĩ. Bọn nầy nhận mặt được hạ thần cho nên đã xông lại đâm hạ thần. Hạ thần trốn được chạy lên đây, nhưng nếu không có bệ hạ cứu thì chắc chắn hạ thần đã chết vì máu ra nhiều quá. Hạ thần quyết tâm hành thích bệ hạ mà bệ hạ lại cứu sống được hạ thần. Hạ thần hối hận quá. Bây giờ đây nếu hạ thần mà sống được thì hạ thần nguyện sẽ làm tôi mọi cho bệ hạ suốt đời, và hạ thần cũng sẽ bắt các con của hạ thần làm như vậy. Xin bệ hạ tha tội cho hạ thần".
 

Thấy mình hòa giải được với kẻ thù một cách dễ dàng nhà vua rất vui mừng. Vua không những tha tội cho người kia mà còn hứa sẽ trả lại gia sản cho ông ta, và gửi ngự y cùng quân hầu tới săn sóc cho ông ta lành bệnh.
 

Sau khi cho vệ sĩ khiêng người bị thương về nhà, vua trở lên tìm ông đạo để chào. Trước khi ra về vua còn lặp lại lần cuối ba câu hỏi của vua. Ông đạo đang quỳ gối xuống đất gieo những hạt đậu trên những luống đất đã cuốc sẵn hôm qua.
 

Vị đạo sĩ đứng dậy nhìn vua: "Nhưng ba câu hỏi của vua đã được trả lời rồi mà".
 

Vua hỏi: "Trả lời bao giờ đâu nào?"
 

"Hôm qua nếu vua không thương hại bần đạo già yếu mà ra tay cuốc dùm mấy luống đất này thì khi ra về nhà vua đã bị kẻ kia mai phục hành thích mất rồi, và nhà vua sẽ tiếc rằng đã không ở lại cùng ta. Vì vậy thời gian quan trọng nhất là thời gian vua đang cuốc đất; nhân vật quan trọng nhất lúc đó là bần đạo đây, và công việc quan trọng nhất là công việc giúp bần đạo. 

Rồi sau đó khi người bị thương nọ chạy lên, thời gian quan trọng nhất là thời gian vua chăm sóc cho ông ta, bởi vì nếu vua không băng vết thương cho ổng thì ổng sẽ chết và vua không có dịp hòa giải với ổng; cũng vì thế mà ông ta là nhân vật quan trọng nhất, và công việc vua làm để băng bó vết thương là quan trọng nhất. 

Xin vua hãy nhớ kỹ điều này: Chỉ có một thời gian quan trọng mà thôi, đó là thời gian hiện tại, là giờ phút hiện tại. Giờ phút hiện tại quan trọng bởi vì đó là thời gian duy nhất trong đó ta có thể làm chủ được ta. Và nhân vật quan trọng nhất là kẻ đang cụ thể sống với ta, đang đứng trước mặt ta, bởi vì ai biết được là mình sẽ đương đầu làm việc với những kẻ nào trong tương lai. Công việc quan trọng nhất là công việc làm cho người đang cụ thể sống bên ta, đang đứng trước mặt ta được hạnh phúc, bởi vì đó là ý nghĩa chính của đời sống."  

http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=83476
http://www.online-literature.com/tolstoy/



Thứ Năm, 8 tháng 7, 2010

Hôm qua An Duy có dịp vào một phim trường. Ánh sáng chiếu chói lòa, lúc một mình đi ngang qua phòng thâu với bóng đèn vô cùng rực rỡ như vậy, bỗng cảm thấy tất cả đều hiện ra rất rõ dưới ống kính.

Điều này khiến AD liên tưởng đến những nghiên cứu về hiện tượng cận tử, những người chết đi sống lại đã kể kinh nghiệm của họ cho các bác sĩ và khoa học gia. Phần đông đều nói về vùng ánh sáng khi mình chết và cả cuộc đời như một quyển phim được chiếu lại. Lúc đó những gì mình từng làm đều được phơi bày, không cách chi giấu giếm được dưới mắt vũ trụ.


Có một quyển sách (và sau này được dựng thành phim), nguyên tác tiếng Anh "The Five People You Meet in Heaven," Việt Nam chúng ta đã có bản dịch với tựa “Năm người gặp trên thiên đường.” Năm người chỉ là một con số tượng trưng, và có lẽ không chỉ riêng người, mà chúng ta cũng sẽ gặp vật nữa. Nếu trong cuộc đời chúng ta đã từng làm hại hoặc tổn thương một chúng sinh nào, có lẽ lúc rời khỏi trần gian là lúc "ta lại gặp ta." Một câu trong sách: "Không có hành động nào là ngẫu nhiên cả. Tất cả chúng ta đều liên hệ với nhau. Không thể tách rời cuộc đời này với cuộc đời khác, cũng như không thể nào tách rời làn gió khỏi cơn gió."

Linh Thoại đã có bài điểm sách về quyển này trên báo Tuổi Trẻ.

Cuộc đời không của riêng mình

("Năm người gặp trên thiên đường," tiểu thuyết của Mitch Albom, Lê Minh Cẩn dịch, Công ty văn hóa Phương Nam và NXB Văn Nghệ)


TT - Bút pháp hiện đại, ngôn ngữ giản dị, trong sáng và nội dung mang chút kỳ bí của tập sách lôi cuốn độc giả từ đầu đến cuối.

Câu chuyện mở đầu bằng cái chết bất ngờ của Eddie - nhân viên bảo trì tại một công viên giải trí. Mở ra sau cái chết là cuộc trò chuyện giữa các linh hồn, ở một thế giới mà trần gian thuộc về quá khứ.

Năm người Eddie gặp trên thiên đường là năm người đứng bên ngoài hoặc đi qua cuộc đời ông theo cách riêng của họ mà chính bản thân ông cũng không ngờ đến. Mỗi người một câu chuyện để kể, một bí mật để tiết lộ và một bài học để sẻ chia...

Bài học về sự hi sinh, lòng tha thứ và tình yêu... tưởng là cũ kỹ nhưng cách chuyển đạt đầy nhân bản của tác giả làm người đọc đôi khi không khỏi giật mình, về những gì cuộc sống đã mang lại cho mỗi người cũng như cách mỗi chúng ta đi vào cuộc sống.

Không có cuộc đời nào là vô vị, tất cả mọi cuộc sống đều có liên quan đến nhau. Một bước chân lơ đễnh của một người đủ giẫm lên sinh mạng một người khác, một bàn tay đưa ra đủ cứu vớt cả một cuộc đời và làm biến đổi câu chuyện.

Chúng ta đã đủ sự cẩn trọng, lòng yêu thương và sự hiểu biết để làm cho ngày hôm qua, hôm nay - rõ ràng không phải của riêng mình - trở nên ý nghĩa? Gợi lên những suy tư như thế, Mitch Albom quả là một tác giả đáng đọc.

Với "Năm người gặp trên thiên đường," bên cạnh những bài học sâu thẳm cho tâm hồn, điều thú vị còn là ở chỗ sự gặp nhau giữa phương Đông và phương Tây trong cái nhìn về nhân quả, nhân duyên.

Cũng cần nói thêm, nhà báo Mitch Albom chính là tác giả của quyển sách từng là một hiện tượng xuất bản - "Tuesdays with Morrie" (bản dịch ở VN mang tên "Lớp học cuối cùng").

http://tusach.tuoitre.vn/ArticleView.aspx?ArticleID=155642&ComponentID=1


Thứ Năm, 13 tháng 5, 2010



Nhà văn Lưu Dung người Đài Loan nổi tiếng từ nhiều thập niên qua với các tác phẩm được bán chạy hàng đầu. Quyển “Khẳng Định Chính Mình” theo dạng lời của một người cha gửi cho con trai. Quyển này nguyên tác tiếng Trung Hoa, cũng có một số phiên bản bằng tiếng Việt Nam với tựa khác nhau, như “Khẳng Định Bản Thân.” Sau đây là bản dịch của Thu Hiền, nhà xuất bản Thanh Niên (9/2002).
 
Lời Nói Đầu
 
Kể từ khi tốt nghiệp tiểu học cho đến nay đã hơn ba mươi năm rồi, các bài giảng đều đã “chữ thầy trả thầy”, nhưng riêng có một bài mà tôi không bao giờ quên, thậm chí có thể nói bài học đó đã có ảnh hưởng lớn tới cuộc đời tôi, cho đến tận bây giờ nó vẫn hiện rõ trong trí óc:
 
“Vĩ nhân biết coi trọng chính mình ngay từ nhỏ!”
 
Điều đó không có nghĩa là ngay từ nhỏ, ta đã muốn làm một vĩ nhân, nhưng qua đó tôi đã rút ra được một điều:
 
“Nếu bản thân chúng ta không biết coi trọng chính mình, khẳng định sự tồn tại của mình, thì làm sao ta có thể yêu cầu nguời khác khẳng định ta?”
 
Hồi học cấp hai, sau khi nghe giảng xong chương “Sinh lý”, thầy giáo nói: “Hãy thử nghĩ xem, chúng ta mới hạnh phúc làm sao! Chúng ta đã cạnh tranh cùng với bao nhiêu kẻ khác để được bố mẹ sinh ra và tại sao không phải là nguời khác mà lại chính là chúng ta!? Trước khi chào đời, chúng ta đã phải trải qua một cuộc cạnh tranh lớn và giành thắng lợi! Vì vậy dù chúng ta có đẹp, hay xấu, có thông minh, hay đần độn, thậm chí có bị tàn phế, thì đó vẫn là một niềm hạnh phúc”.
 
“Sự tồn tại của chúng ta là duy nhất, trên thế giới này không thể tìm ra một nguời thứ hai giống hệt ta!”
 
Lên cấp ba, tôi có đọc cuốn sách “Ni Thái Ngữ lục”, nội dung đa phần rất khó chấp nhận, nhưng có một vài câu khiến tôi rất cảm động:
 
“Đời nguời là một dòng chảy ô hợp, muốn làm lắng đọng dòng chảy này mà không làm mất đi sự thuần khiết trong sạch, con nguời tất phải trở thành biển lớn!”
 
Cuốn sách đó cũng nêu: “Con nguời là cái mà ta cần phải vượt lên. Bạn đã làm gì để vượt lên con nguời đó chưa?”. 

Tác giả đã dùng giọng điệu rất mạnh mẽ khi khẳng định: “Nếu không phải là dân du mục, thì chính là bầy cừu!”
 
Từ đó trong tôi bắt đầu hình thành nên ý tưởng “Khẳng định chính mình”, thử vượt lên trên rất nhiều nhược điểm từ trước tới nay của mình, và hy vọng mình sẽ vượt lên “mình của ngày hôm qua”. 

Tôi rất thích một câu trong “Lễ ký”:
 
“Nếu như mỗi ngày đều có cái mới, thì mỗi ngày đều sẽ mới, và ngày mai cũng sẽ mới”.
 
Vĩ nhân biết coi trọng chính mình ngay từ nhỏ - Đó chẳng phải là triết lý của Mạnh Tử sao?
 
Học đại học năm thứ nhất, tôi được đọc quyển “Từ thoại dân gian” của Vương Quốc Duy, trong đó có đoạn: “Phàm là những nguời làm việc lớn, đều phải trải qua ba giai đoạn: Gió tây buốt giá thổi rụng lá cây, một mình cô độc bước lên lầu cao, trông về hướng xa xa nơi chân trời…”.
 
Tôi ngẫm suy về ba giai đoạn đó, đọc nghiền ngẫm từng từ và cảm nhận sâu sắc cảm giác cô độc quạnh hiu khi đối diện với con đường heo hút “một mình cô độc bước lên lầu cao, trông về hướng xa xa nơi chân trời” và một tấm lòng “quên mình vì nguời khác”; khi xác định giai đoạn khởi phát của cuộc đời, trước tiên phải biết “khẳng định chính mình”!
 
Sau này ra nước ngoài, tình cờ tôi đọc được một bài báo, trong đó có viết: “Người thành công chưa chắc đã có tài năng vượt trội, mà thường là có một khí chất đặc biệt hơn nguời – Đó chính là anh ta không tin mình không thể không thành công, và biết hận bản thân khi mình không thành công. Chính sự phẫn nộ đó đã hóa thành sức mạnh, giúp anh ta thành công!”
 
Câu nói có sức mạnh nhất trong bài báo đó là: “Cái khí chất phải có của một vĩ nhân, chính là tự nhận thấy mình trở nên vĩ đại!”
 
Một hôm, tôi đến thăm quan một nhà thờ Hồi giáo, khi mọi nguời làm lễ, một vị đứng ở trên cao hô lớn. Tôi hỏi phiên dịch, ông ta đang hô to câu gì vậy, cậu phiên dịch nói:
 
“Thành công hãy đến mau! Thành công hãy đến mau!”
 
Tôi bỗng thấy vô cùng xúc động: Thành công không phải là cứ chờ đợi là sẽ có, thành công cũng không dựa vào cơ duyên, thành công chính là cái đích mà ta cần đi tới.
 
Đã đi đến hơn nửa cuộc đời, tôi không nghĩ rằng mình đã thành công, nhưng tôi luôn đi tìm kiếm một cái Tôi thành công hơn ngày hôm qua. Tôi cũng không cho rằng mình có tài năng hơn nguời, nhưng tôi không tin thành quả của nỗ lực lại thua kém nguời khác. Tôi luôn luôn tâm niệm câu nói:
 
“Mỗi chúng ta nên biết coi trọng chính mình ngay từ nhỏ!
Trước khi được nguời khác khẳng định, ta phải tự khẳng định mình trước đã!”

Thứ Sáu, 30 tháng 4, 2010


Tiến sĩ Katharina Wirnitzer, một khoa học gia về thể thao, vừa phát hành một quyển sách mới với tựa là “Bikeextreme” (tạm dịch: “Đua Xe Cực Điểm”), cho thấy các lực sĩ thuần chay không hề yếu ớt so với đối tác ăn thịt. 

Tiến sĩ Wirnitzer nhấn mạnh lối dinh dưỡng thuần chay “không những rất thích hợp cho mọi giai đoạn trong đời người, cũng như cho những lực sĩ hàng đầu, nhưng nếu theo đúng tiêu chuẩn và phối hợp với một lối sống hỗ trợ, cũng vô cùng thích hợp cho những bộ môn thể thao đòi hỏi sự chịu đựng dẻo dai.”
Tiến sĩ Wirnitzer có kinh nghiệm trực tiếp về đề tài này – cô là người thuần chay và đã hai lần kết thúc cuộc đua xe đạp đường núi đầy thử thách: TransAlp Challenge.
Các lực sĩ như Brenda Brazier và Rich Roll là những người thuần chay.
Người thuần chay khỏe và mạnh! Xin bạn an lòng ăn chay!


Theo http://www.opposingviews.com/i/sports-scientist-key-to-athletic-success-is-going-vegan


Thứ Năm, 29 tháng 4, 2010


Trên thế giới hiện nay có nhiều trẻ em ăn chay từ trong bụng mẹ và khi trưởng thành vẫn thông minh, xinh đẹp, khỏe mạnh. Những người ăn chay có chỉ số thông minh (IQ) cũng không đến nỗi tệ: điển hình là bác học Albert Einstein (giải Nobel Vật Lý 1921) và vô số bác sĩ tài giỏi xưa cũng như nay. Các nhà đại lực sĩ từng lãnh nhiều huy chương vàng giá trị nhất trong bộ môn thể thao của họ cũng là người ăn chay: Carl Lewis vô địch điền kinh, John Salley vô địch bóng rỗ, chỉ là một vài thí dụ trong hàng bao lực sĩ trường chay.

Judy Creighton tường thuật trên báo Canadian Press, Toronto, Gia Nã Đại, ngày 26 tháng 4, 2010 về việc trẻ em thuần chay. Nhiều bậc phụ huynh đã đích thân kinh nghiệm qua việc nuôi con bằng thức ăn thuần chay, và sự thật là trẻ em thuần chay không thiếu chất dinh dưỡng hay bệnh hoạn chi cả, mà còn ngược lại.

Thuần chay (vegan) có nghĩa là không dùng bất cứ thành phần nào của động vật trong thức ăn cũng như trong lối sống hàng ngày. Về thực phẩm, người thuần chay không ăn trứng, bơ, sữa bò, mật ong v.v. Các vị này cũng không mặc áo lông thú hoặc đi giày da, và tất cả những món hàng nào có liên hệ đến sự đau khổ của động vật, bao qua việc thử nghiệm hóa chất trên loài vật.

Điều đó để giảm thiểu sự lạm dụng, hành hạ và tàn sát những chúng sinh khác. Gà, thỏ, heo, bò v.v., tất cả đều có gia đình và rất thương con cái của họ. Khi bị phanh da xẻ thịt, họ cũng chảy dòng máu đỏ, cũng biết đau đớn y hệt như loài người chúng ta. Họ cũng yêu quý mạng sống như loài người chúng ta. Họ cũng biết khóc và van xin được tha mạng như chúng ta.

Hàng năm trên Địa Cầu này có 56 tỷ thú vật bị giết làm thức ăn cho loài người (chưa kể cá và các chủng loại dưới nước!) Không cần giỏi toán, bạn cũng có thể đơn giản chia 56 tỷ cho 365 ngày. Vậy mỗi ngày nhân loại giết chết bao nhiêu mạng sống? Xin thưa, 153.424.657 hoặc 153,5 triệu mỗi ngày! Gần gấp đôi dân số nước ta. Mỗi ngày!

Vậy thì chúng ta lấy tư cách gì đây để cầu nguyện khẩn thiết với Trời Cao, xin cho nhân loại được bình yên hạnh phúc, quốc gia phú cường, dân tộc ấm no, đừng gieo thiên tai dồn dập, động đất, lũ lụt, hạn hán, sóng thần tiêu diệt hàng triệu người cùng một lúc?
Ăn chay – cái giá quá rẻ để cho đất nước được thanh bình, thịnh vượng.

Hãy giúp con cháu của bạn ăn chay. Trẻ em như cây non, nhờ tay người khéo uốn. Và nếu để ý kỹ, bạn sẽ thấy một điều là các em ít khi nào thích ăn thịt và rất thương loài vật. Bản tính hồn nhiên đó khiến các em gần gũi với tình thương thánh khiết của Thượng Đế. Hãy giữ gìn cho các em nét đẹp vô tư này. Hãy cho các em được ăn chay.

(Bài viết Judy Creighton) - Drew và Dana Villamagna từ tiểu bang Florida theo lối sống thuần chay. Ba người con của họ cũng vậy. Dana, một ký giả về ẩm thực và sức khỏe, nói: “Chúng tôi sống mà không cần ăn thịt, và thật sự tin rằng các con của chúng tôi cũng có thể ăn thuần chay.”

Ký giả Dana Villamagna năm nay 36 tuổi. Phu quân cô là một bác sĩ y khoa 40 tuổi; gia đình họ cư ngụ tại thành phố St. Petersburg, Florida. Cô cho biết ở vài nơi “rất tiếc là còn nhiều kỳ thị khi thấy trẻ em ăn thuần chay.” Đôi vợ chồng này đã viết quyển “Toàn Bộ Hướng Dẫn Cho Người Mới Biết: Trẻ Em Thuần Chay.” Họ nói trẻ em cần những thông điệp mới trong thế giới “ăn nhanh” ngày nay.

Sau đây là một món tráng miệng thuần chay được giới thiệu trong quyển sách. Khi đông lạnh, món này ăn giống như kem.


 Ảnh minh họa: Kem Xoài Chuối

Kem Xoài Chuối

Công thức cho 3 phần ăn

*2 trái chuối, lột vỏ, cắt khoanh tròn

*1 trái xoài chín, gọt vỏ, thái vuông con cờ

*3 muỗng canh (45 ml) sữa đậu nành (hoặc sữa hạnh nhân, sữa gạo, v.v.)

Xếp khoanh chuối trên dĩa, bao ni-lông lại. Đông lạnh ít nhất 2 tiếng đồng hồ hoặc cho đến khi thật cứng.

Cho chuối đông lạnh vào máy xay sinh tố. Cho xoài, sữa đậu vào; xay cho đến khi nhuyễn theo sở thích (khoảng 2-4 phút). Ăn liền khi lạnh.

Nếu thích ăn giống như kem lạnh, có thể cho vào ly và đông lạnh thêm khoảng 30 phút đến 1 tiếng.

Mỗi phần kem gồm: 120 ca-lô-ri, 0,5 g chất béo, 2 g chất đạm, 31 g carbohydrat, 3 g chất xơ

Nguồn: http://www.thespec.com/go/food/article/758447


nghe nhạc trực tuyếnNấu món chay | học nấu ăn DJ - Ảnh đẹp | xalotinnhanh